Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Lao não - màng não


Bs Lê Nguyễn
I. ĐAI CƯƠNG
  • Là một bệnh do trực khuẩn lao gây ra
  • Thuộc lao ngoài phổi
  • Nguy cơ cao, di chứng nặng nề
II. ĐẶC DIỂM
Thường là lao thứ phát, vi trùng lao di chuyển bằng đường máu hay bạch huyết đến màng não-não
Tổn thương màng não-não thường gặp:
  • Nền sọ
  • Hình thành các tổn thương ở nhu mô não
  • Gây viêm,hẹo động mạch não--> Có thể tổn thương một vùng của não
  • Gây rối loạn lưu thông não thất
III. TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng đa dạng tuỳ theo giai đoạn của bệnh mà biểu hiện khác nhau, có thể rõ ràng -->rất mơ hồ. Điển hình nhấ là :
1> Giai đoạn tiền triệu
Thời gian thay đổi
Triệu chứng không rõ ràng
2>Giai đoạn phát bệnh
a> Cơ năng
  • Sốt
  • Đau đầu với tính chất đa dạng có thể nhẹ--> nặng,đau khu trú hay lan toả,âm ỉ hay từng cơn. Đau tăng với ánh sáng,tiếng động. Tư thế điển hình : nằm co người,quay mặt vào bóng tối
  • Nôn khi có tăng áp lực nội sọ : nôn vọt,tự nhiên,không liên quan ăn uống
  • Dấu thần kinh : Bí tiểu,tiêu tiểu không tự chủ, liệt hay rối loạn tâm thần,...có thể xảy ra khi có tổn thương não
  • Khác : đau cơ,đau khớp,rối loạn tiêu hoá,...
b> Thực thể
Dấu màng não : Có thể đơn lẻ hoặc đồng thời các dấu hiệu
  • Cổ cứng
  • Babinski
  • Kernig
  • Brudzinski
Dấu tổn thương não
  • Yếu liệt
  • Rối loạn tri giác(lơ mơ,hôn mê,..),động kinh
3>Giai đoạn cuối
Phụ thuộc vào việc chẩn đoán và điều trị
  • Tử vong cao nếu điều trị muộn
  • Có thể để lại di chứng tâm thần kinh lâu dài
III. CÁC XÉT NGHIỆM
1> Bilan nhiễm trùng
  • Công thức máu : Bạch cầu máu (dòng lympho) tăng cao
  • VS tăng
  • CRP tăng nhẹ
2> Dịch não tuỷ
Đây là xét nghiệm cơ bản nhất trong chẩn đoán,mọi trường hợp nghi ngờ lao não-màng não cần phải chọc dịch não tuỷ sớm
a) Đại thể : Rất thay đổi
  • Dịch trong,vàng hay đục thậm chí đỏ
  • Có hoặc không tăng áp lực (áp lực bình thường= giọt/phút)
b) Sinh hoá
  • Albumin tăng
  • Đường giảm
  • LDH
b) Tế bào
  • Tăng với lympho chiếm ưu thế
  • Có thể tăng ít (<20 tế bào/ml)--> nhiều, thường gặp nhất là 20-300 tế bào/ml
c) Tìm dấu chứng vi trùng lao
Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán lao não-màng não nhưng khả năng phát hiện không cao và mất nhiều thời gian
  • BK đàm, cấy
  • PCR lao
  • Gián tiếp :γ-interferon ; ADA
***Bảng tóm tắt phân biệt một số nguyên nhân gây VMN
BệnhMàu sắcÁp lực(mmHg)Đường DNT/MáuProtein(mg%)Tế bào(Tb/ml)
Bình thườngTrong100-200½ đến 2/3 30-45≤ 5
VMN mủĐụcTăng (↑↑)Giảm(↓↓)Tăng(↑↑)Tăng(↑↑:chủ yếu N)
VMN virusTrongBt hoặc tăng(↑)BtTăng(↑)Tăng(↑) Limpho(N ở gđ sớm)
VMN laoTrong/vàngTăng(↑)Giảm(↓)Tăng(↑)Tăng(↑)(N:Sớm;L: muộn)
VMN nấmTrongTăng(↑)Giảm(↓)Tăng(↑)Tăng(↑) Mono bào
VMN do KSTTrong/đụcTăng(↑)Bt hoặc giảm(↓)Tăng(↑)Tăng(↑) Eo
Giang mai thần kinhTrongTăng(↑)BtTăng(↑)Tăng(↑) Mono
Ung thư di căn, hoá chấtTrongTăng(↑)Bt hoặc giảm(↓)Tăng(↑)Tăng(↑) Eo
3> Hình ảnh : ít có giá trị trong chẩn đoán đặc biệt là giai đoạn sớm
Nên chụp MRI sọ não (có giá trị hơn CT trong khảo sát tổn thương mô mền) có thể thấy
  • Các hạt lao màu tròn,kích thước=3-5mm,có bả đậu ở giữa tập trung chủ yếu ở đáy não,chéo thị giác
  • Viêm,phù nề
  • Mạn tính có thể thấy các não thất giãn và ứ nước, teo thần kinh thị hay các thần kinh sọ
4> Các xét nghiệm tầm soát lao phối hợp
Lao não màng não phần lớn là thứ phát nên tầm soát lao từ cơ quan khác
  • Phổi : XQ ngực, BK đàm
  • Cơ quan khác...
5> Các xét nghiệm thường quy
IV. CHẨN ĐOÁN
1> Chẩn đoán xác định
  • Dấu thần kinh : Dấu màng não(cổ cứng,Babinski,...); não (liệt,rối loạn tri giác,...); tăng áp lực nội sọ(ói vọt,đau đầu) 
  • Dịch não tuỷ : sinh hoá,tế bào,dấu chứng vi trùng (xem phần xét nghiệm) Dấu nhiễm trùng : sốt,mệt,... 
2> Chẩn đoán phân biệt
  • Viêm màng não mủ 
  • Viêm não do virus 
  • Abces não 
  • U não 
  • Bệnh tâm thần kinh
V. ĐIỀU TRỊ
1> Thuốc kháng lao : theo phác đồ
  • Người lớn : 2SHRZE/1RHZE/3R3H3E3
  • Trẻ em : 2RHZS (S hoặc E)/4RH
2> Corticoides
Corticoides được chứng minh giúp làm giảm di chứng thần kinh
Cần dùng sớm và cùng với thuốc kháng lao (4-8 tuần đầu)
Liều :
3> Điều trị triệu chứng, nâng đở
  • Hạ sốt
  • An thần
  • Hô hấp
  • Nhiễm trùng
  • Dinh dưỡng
VI. THEO DÕI
1> Tiêu chuẩn ICU :
  • Rối loạn tri giác, tâm thần kinh
  • Dấu chứng tổn thương não : rối loạn cơ vòng,liệt...
2> Tiêu chuẩn xuất viện
  • Tĩnh táo
  • Cải thiện lâm sàng
  • Dịch não tuỷ thường hồi phục chậm (vài tháng)
( Cần bổ sung)

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Đột quỵ do thiếu máu não


I. Định nghĩa
Đột quỵ là tình trạng đột ngột khởi phát các khiếm khuyết thần kinh cục bộ hơn là toàn thể, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ, phản ánh tổn thương não bộ, do bất thường hệ thống mạch máu não một cách tự phát (loại trừ nguyên nhân chấn thương).
 Thiếu máu não là nhóm đột quỵ do mạch máu não bị tắc nghẽn và/hoặc giảm lưu lượng do cơ chế huyết động
Cơn thoáng thiếu máu não là tình trạng khiếm khuyết thần kinh cục bộ do thiếu máu não xảy ra đột ngột nhưng hồi phục hoàn toàn không để lại di chứng trong vòng 24 giờ. Tuy nhiên, hầu hết các cơn thoáng thiếu máu não đều hồi phục trong vòng 1giờ, và với sự phát triển của hình ảnh học, người ta thấy phần lớn các cơn thoáng thiếu máu kéo dài trên 1 giờ đều đã có tổn thương não thấy trên cộng hưởng từ. Vì vậy một định nghĩa mới được đề xuất cho cơn thoáng thiếu máu
não là khiếm khuyết thần kinh hồi phục hoàn toàn trong vòng 1 giờ và không có tổn thương trên hình ảnh cộng hưởng từ.
II.         Nguyên nhân
1.         Thiếu máu não do bệnh lý mạch máu lớn
Phổ biến nhất là xơ vữa động mạch lớn; mảng xơ vữa làm hẹp động mạch, cùng với cục huyết khối hình thành trên mảng xơ có thể làm tắc mạch tại chỗ, gây lấp mạch đoạn xa, hoặc làm giảm lưu lượng máu vùng xa.
Ngoài ra còn có bóc tách động mạch, loạn sản cơ sợi, tắc động mạch do viêm (ví dụ Takayasu)…
2.         Thiếu máu não do bệnh lý mạch máu nhỏ
Liên quan đặc biệt đến tăng huyết áp. Huyết áp tăng mạn tính dẫn đến tổn thương các động mạch xuyên nhỏ, sâu trong nhu mô não, khiến các động mạch này tắc nghẽn, gây nhồi máu nhỏ, gọi là nhồi máu lỗ khuyết. Các động mạch xuyên có thể tổn thương do thoái hóa lắng đọng lipohyalin, hoại tử fibrin, hoặc hình thành các vi phình mạch Charcot Bouchard với biến chứng tạo huyết khối gây tắc mạch.
Bệnh mạch máu nhỏ còn có thể xảy ra do viêm mạch, do thuốc gây nghiện…
3.         Thiếu máu não do lấp mạch từ tim
Các bệnh tim làm tăng nguy cơ hình thành cục huyết khối trong buồng tim, là nguồn cung cấp vật liệu gây lấp mạch não. Bệnh lý thường gặp nhất gây lấp mạch não là rung nhĩ, đơn thuần hoặc kết hợp với bệnh van tim, chủ yếu là hẹp van hai lá.
Các bệnh tim mang nguy cơ lấp mạch cao ngoài rung nhĩ còn có cuồng nhĩ kéo dài, hội chứng suy nút xoang, huyết khối nhĩ, tiểu nhĩ trái, u nhầy nhĩ trái, hẹp van hai lá, van cơ học, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, không nhiễm trung, u nhầy thất trái, nhồi máu cơ tim mới thành trước, bệnh cơ tim giãn nở
4.  Thiếu máu não do bệnh lý huyết học, chiếm tỉ lệ thấp
Các bệnh lý tăng số lượng tế bào máu như đa hồng cầu, tăng tiểu cầu, bệnh bạch cầu, và các trạng thái tăng đông di truyền hoặc mắc phải
III. Chẩn đoán
1.  Công việc chẩn đoán
a)  Hỏi bệnh sử: chú ý hoàn cảnh khởi phát bệnh, giờ khởi phát, tính đột ngột của khởi phát, các triệu chứng thần kinh lúc khởi phát, tiến triển của các triệu chứng này, các triệu chứng kèm theo như nhức đầu, nôn ói, ngã chấn thương, co giật.
b)  Khám lâm sàng
Đánh giá ý thức, dùng thang điểm hôn mê Glasgow
Xác định các khiếm khuyết thần kinh, đánh giá bằng thang điểm đột quỵ NIH (NIHSS) Đánh giá phân loại lâm sàng bằng phân loại OCSP (Bamford)
Đánh giá chức năng sinh hoạt bằng chỉ số Barthel
Đánh giá kết cục bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS)
c)  Cận lâm sàng
* Cận lâm sàng thường quy
-   Xét nghiệm máu: Công thức máu, đông máu toàn bộ, đường huyết, ion đồ, chức năng gan (AST, ALT, Bilirubin), chức năng thận (BUN, Creatinin), bilan lipid máu (TG, Chol, LDL-C, HDL-C), men tim, tổng phân tích nước tiểu
-   Điện tim, X quang ngực thẳng
*  Cận lâm sàng để chẩn đoán xác định
-   CT scan não không cản quang: có ưu điểm là thực hiện nhanh, giá rẻ hơn MRI, phổ biến, phân biệt nhanh và rõ giữa xuất huyết não với nhồi máu não; tuy nhiên có thể không thấy được tổn thương thiếu máu não sớm, hoặc thiếu máu vùng thân não.
-   MRI não không tiêm thuốc: chú ý bao gồm các xung khuếch tán (phát hiện tổn thương thiếu máu não từ rất sớm), TOF 3D (khảo sát mạch máu não không cần tiêm thuốc); ưu điểm khảo sát tốt thân não, thấy được tổn thương thiếu máu não rất sớm, thấy được các tổn thương nhỏ, có thể phân biệt tốt với xuất huyết não (xung T2*W) và thấy được các vi xuất huyết; Nhược điểm là đắt tiền, thời gian khảo sát lâu không phù hợp nếu bệnh nhân có rối loạn ý thức, rối loạn huyết động, hô hấp... cần theo dõi sát, và không khảo sát được nếu có dị vật kim loại, có máy tạo nhịp…
*  Cận lâm sàng tìm nguyên nhân
-   Nguyên nhân mạch máu: siêu âm duplex động mạch vùng cổ, Doppler xuyên sọ, CT mạch máu (CTA), hoặc cộng hưởng từ mạch máu (MRA) vùng cổ và mạch máu não; Đôi khi có thể dùng DSA khi có chỉ định đặc biệt
-   Nguồn lấp mạch từ tim: điện tim, holter ECG, siêu âm tim, siêu âm tim qua thực quản, Doppler xuyên sọ với tiêm bọt khí tìm tín hiệu thuyên tắc.
-   Nguyên nhân huyết học: định lượng các yếu tố tăng đông (Protein S, protein C, antithrombin III, yếu tố V Leyden, Fibrinogen, kháng thể kháng phospholipid), huyết đồ, tủy đồ khi cần
-   Các bệnh lý tự miễn (dành cho nhồi máu não người trẻ): kháng thể kháng nhân (ANA pha loãng), anti ds DNA, giang mai (RPR, TPHA), CRP
-   Sinh thiết mạch máu não, sinh thiết mạch máu ngoại vi khi có nghi ngờ nguyên nhân viêm mạch
2. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán lâm sàng: khởi phát đột ngột, khiếm khuyết thần kinh cục bộ, tổn thương được định  vị ở não bộ, theo phân bố một động mạch não hoặc một nhánh, không do chấn thương
Chẩn đoán cận lâm sàng:
-   CT scan não không cản quang: tổn thương giảm đậm độ nhu mô não thuộc chi phối của một động mạch hoặc một nhánh của nó; nếu chụp sớm có thể không thấy tổn thương giảm đậm độ nhu mô, khi đó vẫn phân biệt được với xuất huyết não (không có tổn thương tăng đậm độ nhu mô não) và xuất huyết dưới nhện (không có tăng đậm độ trong các bể dịch não tủy, các khe, và các rãnh vỏ não); và vẫn chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não nếu lâm sàng là đột quỵ, sau đó có thể chụp lại
CT scan não sau 24 giờ hoặc chụp MRI não.
-   MRI não: xác định tổn thương não, vị trí, kích thước, tổn thương theo phân bố tưới máu của một động mạch não; xung khuếch tán giúp phát hiện các tổn thương cấp tính từ rất sớm, xung T2*W giúp nhận biết tốt tổn thương xuất huyết não.
3. Chẩn đoán phân biệt
-   Các dạng bệnh mạch máu não khác: xuất huyết não,  xuất huyết dưới nhện, huyết khối tĩnh mạch nội sọ
-   Liệt sau cơn động kinh (liệt Todd)
-   Liệt trong migraine
-   Hạ đường huyết
-   Khối choán chỗ nội sọ
-   Rối loạn chuyển dạng
IV.       Điều trị
1.         Nguyên tắc hoặc mục đích điều trị
-   Tái thông mạch máu để phục hồi tưới máu não
-   Đảm bảo tưới máu não để hạn chế lan rộng tổn thương, cứu vùng tranh tối tranh sáng (là vùng giảm tưới máu, rối loạn chức năng, nhưng chưa hoại tử thiếu máu)
-   Chống biến chứng, chống tái phát sớm
-   Phục hồi chức năng và phòng ngừa tái phát
2.         Điều trị đặc hiệu
Thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch: triển khai trong tương lai gần (xem phác đồ rtPA)
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 4,5 giờ sau khởi phát,
có khiếm khuyết thần kinh đáng kể, không quá nhẹ cũng không quá nặng (NIHSS
từ 5-25 điểm), không có xuất huyết và không có các chống chỉ định khác.
-   Thuốc dùng: rtPA (Actilyse) liều 0,6-0,9 mg/kg, tối đa 90mg, liều đầu 10% bolus
TM, còn lại TTM trong 60 phút
-   Chi tiết xem phác đồ và quy trình điều trị tiêu huyết khối
Thuốc tiêu huyết khối đường động mạch: chưa triển khai thực hiện
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 6 giờ từ lúc khởi phát, các tiêu chuẩn khác tương tự thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch, bệnh nhân có thể chưa được dùng thuốc đường tĩnh mạch hoặc đã sử dụng nhưng chưa tái thông được
-   Thuốc dùng: rtPA, bơm trực tiếp vào cục huyết khối gây tắc mạch
Tái thông mạch máu bằng dụng cụ cơ học: chưa triển khai thực hiện
-   Thực hiện trong protocol nghiên cứu
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 9 giờ từ lúc khởi phát, có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc đường tĩnh mạch, động mạch
-   Dụng cụ: hệ thống Mercy Retrieval hoặc Penumbra
3.         Điều trị chung
a.  ABC: Đảm bảo đường thở thông thoáng (A), thông khí đầy đủ (B), và tuần hoàn ổn định
(C).
b.  Oxy qua sonde mũi: 2-4 l/p, chỉ định khi có thiếu Oxy, cụ thể khi SpO2 <92%, mục tiêu giữ SpO2 từ 95-100%
c.  Chỉ định nội khí quản:
-           Thiếu Oxy, suy hô hấp, rối loạn nhịp thở
-           Hôn mê, nguy cơ hít sặc cao.
d.  Dịnh truyền:
-           1,5 - 2 lít/ngày; chọn Ringer lactate, muối đẳng trương, tránh dùng glucose
e.  Điều chỉnh huyết áp
Không điều chỉnh hạ huyết áp trong giai đoạn cấp, trừ khi:
i.  Bệnh nhân được điều trị bằng tPA, hoặc
ii.  Bệnh nhân có tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp cấp (suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, bệnh não do tăng huyết áp, phình động mạch chủ bóc tách …), hoặc
iii.  Huyết áp tâm thu hơn 220 mmHg hoặc tâm trương 120 mmHg
Nếu cần điều trị tăng huyết áp, xem xét dùng các thuốc hạ áp tĩnh mạch tác dụng ngắn như nicardipine (Loxen) hoặc labetalol (Trandate - hiện không có thuốc) để dễ dàng chỉnh liều phù hợp, với mục tiêu giảm 10-15% trị số huyết áp; không dùng nifedipine nhỏ dưới lưỡi.
Ở bệnh nhân có tụt huyết áp (hiếm gặp), cần tìm nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân, khi cần có thể dùng vận mạch
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRONG THIẾU MÁU NÃO CẤP  ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ TẠI KHOA THẦN KINH BVCR
f.  Sốt:
-           Hạ sốt bằng các biện pháp vật lý (lau mát), dùng thuốc paracetamol.
-           Tìm và điều trị nguyên nhân; dùng kháng sinh nếu có nhiễm trùng
g.  Điều chỉnh đường huyết
-           Mục tiêu giữ đường huyết <150 mg/dL
-           Dùng Insulin tiêm dưới da hoặc insulin truyền tĩnh mạch
PHÁC ĐỒ SỬ DỤNG INSULIN TRONG GIAI ĐOẠN CẤP
h.  Chống tái phát sớm, xử lý trường hợp diễn tiến xấu (trở nặng)
-           Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc kháng đông khi có chỉ định (bảng)
-           Tìm nguyên nhân và xử lý thích hợp trường hợp trở nặng (bảng)
i.          Phòng và điều trị biến chứng:
*        Chống tăng áp lực nội sọ
-           Thông khí đầy đủ, tránh ứ CO2, có thể can thiệp tăng thông khí cơ học nếu có biểu hiện tăng áp lực nội sọ dọa phù não, với pCO2 mục tiêu là 25-35 mmHg
-           Tư thế nằm: cho nằm đầu cao 30 độ sau 24 giờ với điều kiện không có rối loạn huyết động và không có tắc hẹp đáng kể các động mạch lớn
-           Xem xét phẫu thuật giải áp ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng (nhồi máu ác tính động mạch não giữa)
-           Liệu pháp thẩm thấu: Mannitol 20%, TTM 100 giọt/phút với liều 0,25g/kg mỗi 6 giờ; hiệu quả không nhiều và không kéo dài với tăng áp lực nội sọ do nhồi
máu não, do đó cần cân nhắc kỹ, nhất là với các bệnh nhân có nguy cơ quá tải
tuần hoàn, có bệnh lý tim mạch cần hạn chế dịch…
*        Chống nhiễm trùng
-           Xoay trở, tránh ứ đàm, tránh hít sặc, tập vật lý trị liệu hô hấp
-           Cho ngồi sớm ngay khi không còn các chống chỉ định
-           Chỉ đặt sonde tiểu khi thật sự cần thiết
-           Dùng kháng sinh phù hợp khi có dấu hiệu nhiễm trùng
*        Chống loét
-           Dinh dưỡng đầy đủ
-           Xoay trở thường xuyên, thay đổi điểm tì, dùng nệm hơi chống loét
-           Giữ da khô sạch, chú ý các điểm tì đè dễ loét
*         Chống huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc phổi
-           Xoay trở, xoa bóp và tập vận động sớm các chi
-           Cho ngồi, cho vận động sớm ngay khi không còn chống chỉ định
-           Dùng vớ đàn hồi với các đối tượng nguy cơ
-           Xem xét dùng heparin trọng lượng phân tử thấp liều phòng ngừa cho các đối tượng nguy cơ cao
-           Phát hiện sớm huyết khối tĩnh mạch sâu và điều trị kháng đông
-           Phát hiện sớm thuyên tắc phổi và điều trị kịp thời
j.          Phục hồi chức năng:
o  Gồm vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, và tái hòa nhập cộng đồng o  Tập sớm ngay khi lâm sàng cho phép
o  Mục tiêu: tránh biến chứng (nhiễm trùng, loét, huyết khối tĩnh mạch, cứng cơ teo cơ…), cải thiện các khiếm khuyết thần kinh, thích nghi với các khiếm khuyết còn lại và tái hòa nhập cộng đồng
k.  Chống tái phát:
o  Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, dùng kháng đông khi có chỉ định
o  Dùng statin điều chỉnh lipid máu và bảo vệ thành mạch: xem xét dùng liều cao ở các bệnh nhân nhiều yếu tố nguy cơ (ví dụ dùng atovastatin liều cao 40-80 mg/ngày)
o  Với bệnh nhân hẹp động mạch cảnh nặng bên có triệu chứng: xét phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh hoặc can thiệp nội mạch nong và đặt stent. Với hẹp động mạch nội sọ, chưa có khuyến cáo rõ và hiện chưa triển khai tại bệnh viện Chợ Rẫy việc can thiệp nội mạch nong và đặt stent, do đó hiện tại chỉ điều trị nội với lưu ý các bệnh nhân này được xếp vào nhóm nguy cơ tái phát cao.
o  Điều chỉnh lối sống, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là tăng huyết áp và đái tháo đường
HƯỚNG DẪN XỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG
Xác định nguyên nhân và xử lý:
1.  Đột quỵ lan rộng
Xảy ra khi có hẹp hoặc tắc động mạch và có biến đổi huyết động học vì bất cứ nguyên nhân nào. Không có bằng chứng về vai trò của điều trị kháng đông, xử trí chính là giải quyết sớm vấn đề tắc/hẹp động mạch.
Chủ yếu là phòng ngừa hơn là điều trị sau khi đã xảy ra. Cần khảo sát động mạch sớm bằng TCD, CTA, MRI. Có thể làm CT hoặc MRI perfusion để đánh giá diện tích vùng giảm tưới máu. Hoặc nếu không có perfusion, chỉ cần thấy tổn thương MRI DW nhỏ nhưng có hiện diệntắc động mạch lớn thì bệnh nhân có nguy cơ rất cao, cần can thiệp sớm, ví dụ tiêu huyết khối tĩnh mạch dù NIHSS thấp, can thiệp động mạch, CEA, nong và stent ĐM cảnh.
2.  Giảm áp lực tưới máu não
Mô não thiếu máu bị mất cơ chế tự điều hoà, giảm huyết áp sẽ làm giảm lưu lượng máu tới vùng tranh tối tranh sáng, có thể ảnh hưởng cả vùng vỏ và dưới vỏ, trong đó vùng dưới vỏ THBH nghèo nàn nên có nguy cơ cao nhất  bị tổn thương thêm do giảm tưới máu.
HA trung bình (HATB) phải ở mức trước đột quỵ trong 24 giờ đầu; nói chung ít nhất 130 ở người THA, 110 ở người HA bình thường.
Nếu HA xuống dưới mức này, hoặc nếu LS trở nặng: điều chỉnh nâng HATB bằng dịch truyền và có thể thuốc vận mạch. Giữ tư thế đầu nằm ngang hoặc không quá 15 độ
3.  Đột quỵ tái phát
Ở BN rung nhĩ, nguy cơ tái phát là 5-8% trong hai tuần đầu. Không có dữ liệu về lợi ích của kháng đông tức thì hoặc sớm.
MRI thấy có tái phát ở 34% bệnh nhân trong tuần đầu, trong khi lâm sàng chỉ có 2%.
Dùng kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ khi đã xác định bằng hình ảnh học lặp lại rằng nhồi máu kích thước nhỏ, còn nếu lớn thì không có chuyển dạng xuất huyết hoặc phù do mạch đã được giải quyết; thường chờ trung bình 48-96 giờ từ lúc bị đột quỵ
Xơ vữa động mạch lớn cũng tăng nguy cơ tái phát do đó phải thực hiện tái thông động mạch cảnh sớm (phẫu thuật bóc nội mạc hoặc can thiệp nong và stent)
4.  Phù não và hiệu ứng choán chỗ
Là vấn đề trong nhồi máu diện rộng, như nhồi máu lớn động mạch não giữa ảnh hưởng đến các hạch nền, thường cũng kèm tổn thương ĐM não trước và não sau, và nhồi máu tiểu não diện rộng; Quan trọng ở người trẻ, vì não không teo nên không có nhiều khoảng trống nội sọ như người lớn tuổi
Theo dõi ghi nhận bất kỳ biến đổi thần kinh, giảm mức ý thức, tăng huyết áp, thở chu kỳ, nấc cụt, nhức đầu, bất thường dây sọ mới xuất hiện, và đồng tử (muộn)
Điều trị nội
*  Quan trọng nhất là chăm sóc tốt
-           Tư thế đầu ≤150
-           Điều chỉnh ngay sốt, rối loạn điện giải, tăng đường huyết
-           Tối ưu hoá một cách thận trọng HA trung bình (MAP) và cung lượng tim để đảm bảo tưới máu
não đủ
*   Không dùng corticoid
*   Liệu pháp thẩu thấu (mannitol) hiệu quả tạm thời cho một số trường hợp
Liều: mannitol 0,5-1g/kg truyền TM trong 30-60 phút, sau đó 0,25g/kg mỗi 6 giờ
Mục tiêu nâng áp lực thẩm thấu lên 10% nhưng không quá 315 mOsm
Kiểm tra áp lực thẩm thấu huyết thanh mỗi 12 giờ và ngưng mannitol nếu >315 mOsm/L
*   Dẫn lưu dịch não tủy bằng phẫu thuật mở não thất nếu có não úng thủy góp phần làm tăng áp lực nội sọ
Điều trị phẫu thuật
*   Hội chẩn phẫu thuật sớm
*   Với nhồi máu diện rộng ĐM não giữa, xem xét phẫu thuật mở bản sọ giải áp sớm (gồm mở lấy bản sọ và rạch màng cứng)
*   Với đột quỵ tiểu não, điều trị thích hợp là giải áp hố sau và cắt bỏ tiểu não
*   Phẫu thuật giải áp là biện pháp cứu sống, dù chưa được chứng minhhiệu quả trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, nhưng hầu hết các chuyên gia đột quỵ đều khuyến cáo áp dụng trong các trường hợp được chọn lọc kỹ dựa trên các báo cáo loạt ca. PT này được khuyến cáo đặc biệt trong đột quỵ tiểu não, vì BN vẫn duy trì chức năng tốt dù mất một phần lớn của tiểu não. Với nhồi máu lớn ĐMNG, phải thảo luận với thân nhân về chất lượng sống sau khi phẫu thuật so với khả năng tử vong. Nhiều chuyên gia không thường thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân nhồi máu lớn MCA trái, vì bệnh nhân nếu sống thường bị mất ngôn ngữ nặng. Tuổi là một yếu tố tiên đoán quan trọng cho kết cục sau phẫu thuật mở sọ giải áp, với kết cục kém ở những bệnh nhân trên 60 tuổi. Kết quả tốt nhất gặp được ở các bệnh nhân trẻ nhồi máu bán cầu không ưu thế được can thiệp sớm.
Tiêu chuẩn xem xét phẫu thuật mở sọ giải áp
-           Khởi phát < 5 giờ với giảm đậm độ > 50% vùng tưới máu ĐM não giữa
-           Khởi phát < 48 giờ, giảm đậm độ toàn bộ vùng tưới máu động mạch não giữa
-           Lệch đường giữa >7,5mm
-           Lệch đường giữa >4mm với ý thức ngủ gà lơ mơ
Các tiêu chuẩn khác cần xem xét
-           Tuổi <60
-           Thể tích nhồi máu trên MRI 145cc
5.  Chuyển dạng xuất huyết
Phải thấy rõ trên CT não không cản quang; Hầu hết các trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng, trừ khi xuất huyết lớn hoặc ở vùng quan trọng.
Phân loại chuyển dạng xuất huyết trên CT:
-           Nhồi máu xuất huyết loại 1 và 2 (HI1 và HI2): xuất huyết dạng etechiae vào vùng nhồi máu, không gây hiệu ứng choán chỗ và hiếm khi có triệu chứng lâm sàng. HI1 là petechiae nhỏ, HI2 là petechiae dính nhau. Khi xảy ra nhồi máu xuất huyết thường không can thiệp gì được nhiều, trừ việc tạm ngưng thuốc chống tiểu cầu và kháng đông cho tới khi chắc chắn rằng không có chảy    máu tiếp diễn trên hình ảnh học kiểm tra.
-           Xuất huyết nhu mô loại 1 và 2 (PH1 và PH2): chảy máu thành khối trong vùng nhồi máu. Nếu khối xuất huyết chiếm trên 30% vùng nhồi máu và tạo hiệu ứng choán chỗ (PH2) thì triệu chứng thần kinh thường xấu đi. Nguy cơ xảy ra PH2 là lý do chính khiến người ta không khuyến cáo dùng kháng đông tức thì sau nhồi máu lấp mạch từ tim, và khi dùng phải chụp CT trước. Khi có PH2, xử trí giống như các xuất huyết não khác.
6.  Rối loạn chuyển hóa
Não đang bị tổn thương sẽ nhạy cảm hơn tác động của các rối loạn chuyển hoá, do đó cần tìm và điều trị tích cực các rối loạn này.
-           Sốt nhẹ hoặc thay đổi Na máu hoặc đường huyết có thể có tác động lâm sàng nặng nề
-           Các nhiễm trùng như đường niệu hoặc hô hấp sẽ làm nặng thêm các triệu chứng thần kinh
-           Giảm cung lượng tim là yếu tố đặc biệt xấu, làm xấu kết cục, cần tránh bằng cách tối ưu hoá lượng dịch và liệu pháp tăng co bóp tim
-           Phát hiện thiếu oxy máu, tìm nguyên nhân và điều trị; cần truy tìm các nguyên nhân: thuyên tắc phổi, viêm phổi, phù phổi
-           Thiếu máu: truyền máu nếu Hb <10g
-           Thuốc an thần cản trở việc chuyển nhanh sang phục hồi chức năng và cũng liên quan tới kết cục xấu, giảm vận động làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu… do đó cần tránh thuốc an thần càng nhiều càng tốt nếu có thể
7.  Co giật
Tần suất: xảy ra ở khoảng 20% bệnh nhân đột quỵ, xuất huyết hơi nhiều hơn nhồi máu.
Trong hầu hết các trường hợp, nếu co giật xảy ra, thường chúng sẽ xảy ra vào lúc khởi phát hoặc trong vòng 24 giờ đầu.
Co giật thường để lại một trạng thái giảm ý thức sau cơn, cũng như làm nặng thêm các dấu thần kinh định vị.
Trạng thái động kinh sau đột quỵ vô cùng hiếm.
Điều trị thuốc chống co giật: chỉ định khi có co giật muộn hoặc co giật tái phát, nên dùng các thuốc chống động kinh không gây an thần, theo thứ tự ưu tiên sau:
o   Lamotrigine 25mg/ngày, điều chỉnh tăng liều mỗi 2 tuần, mỗi lần tăng 50-150mg/ngày.
o   Gabapentin 300mg/ngày, điều chỉnh tăng liều mỗi 3-4 ngày đến liều 1500mg/ngày chia liều.
o   Levetiracetam 500mg mỗi 12 giờ, điều chỉnh liều tăng lên mỗi 2 tuần đến liều 2000 mg/ngày.
8.  Dao động triệu chứng không có nguyên nhân rõ
Một số bệnh nhân xấu đi mà không có lý giải rõ ràng nào. Đây là hiện tượng chưa được hiểu rõ, phổ biến nhất trong đột quỵ dưới vỏ. Thường hiện tượng này xảy ra trong 3 ngày đầu, nhưng vẫn có thể gặp trong vòng 2 tuần sau khởi phát đột quỵ.
Cơ chế không được biết rõ, có thể là giảm tưới máu khu trú, viêm, biến đổi hóa chất thần kinh hoặc chất dẫn truyền thần kinh, chết theo chương trình.
Điều trị chủ yếu là nâng đỡ (duy trì đẳng tích, kiểm tra để đảm bảo không tụt HA, nằm đầu bằng). Điều trị kháng viêm (statins liều cao) và các trị liệu bảo vệ thần kinh khác đang được đánh giá. Một nghiên cứu gần đây về các thuốc bắt giữ gốc tự do cho thấy có cải thiện kết cục ở các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp, từ đó gián tiếp ủng hộ bằng chứng trong phòng thí nghiệm về vai trò quan trọng của quá trình viêm trong việc gây tổn thương sau đột quỵ.
V.   Theo dõi và tái khám
Tái khám mỗi tuần trong tháng đầu, sau đó mỗi hai tuần, khi tình trạng ổn định tái khám mỗi
tháng.
Khám lâm sàng, đánh giá bằng thang điểm NIHSS, chỉ số Barthel, và thang điểm Rankin điều chỉnh.
Đảm bảo kiểm soát huyết áp, kiểm soát đường huyết, dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, hoặc
thuốc kháng đông nếu có chỉ định, giữ INR đạt mục tiêu (2-3 cho rung nhĩ…, 3-4 cho van
nhân tạo), dùng statin (hiệu quả hạ LDL-C, và chống viêm, làm bền vững và có thể thoái triển
mảng xơ vữa)
Tập vật lý trị liệu và tái hòa nhập cộng đồng.
VI.   Lưu đồ chẩn đoán và điều trị
Lưu đồ xử trí chung đột quỵ (xem phác đồ xuất huyết não)
Lưu đồ xử trí đột quỵ thiếu máu não
Xử trí biến chứng khi dùng rtPA
- CT khẩn nếu ý thức hoặc dấu TK định vị xấu đi, để phát hiện xuất huyết não hoặc phù não
- Nếu xuất huyết nguy cơ cao (đặc biệt xuất huyết nội sọ):
o  Ngưng truyền thuốc tiêu huyết khối
o  Lấy máu xét nghiệm đông máu
o  Bù dịch, ép nơi chảy máu nếu được
o  Nếu cần: dùng các sản phẩm máu: yếu tố đông máu, huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu đậm đặc. Mục tiêu fibrinogen 1g/L
o  Hội chẩn ngoại khoa nếu cần

Theo BS Nguyễn Bá Thắng - Khoa-Bộ Môn Thần Kinh, BVCR-ĐHYD TPHCM

Trạng thái động kinh

Tóm tắt:

Trạng thái động kinh một tình trang cấp cứu cần thiết phải có chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Kết quả điều trị phụ thuộc vào chẩn đoán đầu tiên, cơ chế sinh bệnh để lượng giá và điều trị. Thể lâm sàng thường gặp trong trạng thái động kinh là co giật toàn thể từ tình trạng động kinh cục bộ hay động kinh toàn thể.

Những trình tự các bước điều trị:

1.Chẩn đoán trạng thái động kinh, 
2 .Theo dỏi và đánh giác chức năng sinh tồn
3. Đặt đường tĩnh mạch, lấy máu xét nghiệm và truyền normal saline
4. Cho vitamine B1 & glucose
5.Truyền TM lorazepam, diazepam
6.Truyền phenytoin
7.Nếu co giật còn kéo dài thí dùng phenobarbital TM

* * * * *

Trạng thái động kinh là một tình trạng cấp cứu mà ở đó cần phải tiến hành khẩn cấp những kỹ thuật nhằm đưa bệnh nhân ra khỏi tình trạng co giật và mất ý thức.

Thuật ngữ trạng thái động kinh (statuts epilepticus) chỉ tất cả các cơn động kinh tồn tại thời gian dài hoặc lặp lại có khoảng cách gần nhau giữa các cơn, đều tạo ra tình huống động kinh mạnh và kéo dài. Giữa các cơn có thể duy trì các trạng thái khác nhau như mất ý thức, hôn mê trong các cơn động kinh toàn thể kéo dài trên 30 phút đến 1 giờ , khiếm khuyết về thần kinh trong các cơn động kinh cục bộ.

Khái niệm “Cơn liên tiếp” ( các cơn lấn vào nhau, cơn này tiếp cơn khác trong đó cơn sau bắt đầu trước khi cơn trước kết thúc hoán toán. Trong lâm sàng thì cơn liên tiếp đồng nghĩa với trạng thái động kinh (P.Thomas, P. Genton)

Thuật ngữ “cơn hàng loạt” , là tình trạng các cơn tiếp diễn, cơn này tiếp cơn khác với trạng thái tĩnh bình thường giữa các cơn. Trong thực hành lâm sàng ,sự lặp đi, lặp lại các cơn có thể báo hiệu trong thời gian ngắn sẽ hình thành trạng thái động kinh( thường cơn động kinh cục bộ , giật cơ…

Phân loại triệu chứng học trạng thái động kinh

Các trang thái động kinh rất không đồng nhất ví chúng có rất nhiều biểu hiện khác nhau về triệu chứng học. Tính chất khởi phát, triệu chứng khở đầu mà lâm sàng không diễn tả hết. Để phù hợp phân loại quốc tế của các cơn động kinh cũng như tần xuất của các loại triệu chứng. Chúng tôi đưa ra phân loại trạng thái động kinh của Thomas, Rutecki (1997)

Điều tra về các nguyên nhân đối với trạng thái động kinh nhiều tác giả nhấn mạnh đến như một tai biến xảy ra trên một người động kinh đã biết, coi đây là biểu hiện khác thường cần phải tiến hành tìm nguyên nhân phát động (nhiễm trùng, hạ đường huyết, hạ natri huyết, tình trạng điều trị hay ngưng thuốc …). Một vài bệnh nhân có thể là cơn lần đầu hay không rõ nguyên nhân (Bảng 1)

Bảng 1 : Phân loại trạng thái động kinh

1.Cơn động kinh toàn thể
  • Cơn co- giật 
  • Cơn co cứng 
  • Co giật 
  • Động kinh tiềm ẩn 
2.Không co giật
  • Mất ý thức 
  • Động kinh cục bộ phức tạp 
3.Động kinh cục bộ đơn giản
  • Động kinh cục bộ vận động liên tiếp 
  • Động kinh đơn thuần cảm giác 
  • Aphasia 
Co giật toàn thể bao gồm co giật (clonic) – co cứng (tonic), động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ toàn thể hóa. Trạng thái co giật – co cứng được định nghĩa khi cơn co giật xảy ra ý thức bệnh nhân không tỉnh lại giữa các cơn. Sự co giật liên tiếp kéo dài hơn 30 phút tạo ra trạng thái động kinh, tuy nhiên khi cơ co giật khoảng 10 phút phải tiến hành điều trị. Những biểu hiện lâm sàng đôi khi là co cứng, co giật giật cơ hay dạng tiềm ẩn chỉ biểu hiện cử động hay nháy mắt.

Trạng thái động kinh tiềm ẩn lâm sàng có khi chỉ biểu hiện cử động, nháy mắt, cơn thực vật (tăng tiết nước bọt, cơn hô hấp, nhịp nhanh, mặt đỏ) những bệnh nhân này chẩn đoán lâm sàng kết hợp với EEG ghi trong cơn hay theo dõi monitor. Tình trạng này được đánh giá ở giai đoạn cuối với thời gian mất ý thức nếu không được điều trị thì tử vong khoảng trên 50% ca.

Trạng thái giật cơ : Trong trạng thái giật cơ có thể là triệu chứng của bệnh não nhiễm độc, hoặc chuyển hoá xảy ra trong khuôn khổ môt động kinh tiến triển.

Trạng thái động kinh không co giật, mà trên thực hành lâm sàng thường là các cơn động kinh vắng ý thức và cơn động kinh cục bộ phức tạp. Cơn vắng ý thức thường gặp trẻ em, liên quan đến ngủ lịm, chậm chạp sau cơn, chức năng vỏ não suy giảm, nháy mắt liên tục, giật các cơ hàm là triệu chứng thường thấy, hiếm gặp giật cơ hay co giật. Trong cơn EEG có các sóng bật thường với các gai nhọn, sóng chậm đa pha, điều trị với lorazepam cắt cơn rất hiệu quả. Cơn động kinh cục bộ phức tạp thường khởi đầu bằng tình trạng mất ý thức, hoặc những cơn động kinh cục bộ liên tiếp nhanh mà giữa các cơn mất ý thức, việc chẩn đoán các cơn dựa vào bệnh sử hoặc điện não ghi đợc những sóng bất thường cục bộ, trạng thái động kinh cục bộ phức tạp sau khi cắt cơn thường giảm trí nhớ có thể gặp thiếu sót thần kinh như yếu liệt, aphasia …

Trạng thái động kinh cục bộ đơn giản, thường gặp ba thể lâm sàng là động kinh vận động cục bộ đơn giản, động kinh cảm giác, aphasia. Sự xuất hiện liên tiếp và kéo dài liên tục có thể gây nên trạng thái động kinh, việc xác định chẩn đoán dựa vào tiền sử, khiếm khuyết thần kinh và EEG

Trạng thái động kinh cục bộ phức tạp có kènm theo suy giảm ý thức một cách có chọn lọc dưới dạng lú lẫn tâm thần, điện não đồ cần thiết phân biệt với trạng thaí vắng ý thức


Môt thể cục bộ khác mà Gastaut xếp vào trạng thái động kinh đó là các trạng thái động kinh một bên xảy ra ở trẻ em. Trạng thái động kinh này là triệu chứng biểu hiện của tình trạng xâm phạm não cấp hoặc sốt co giật. Cơn co giật nửa người kéo dài tồn tại với một hoạt động kịch phát tổn thương bán cầu não đối bên. Đôi khi liệt nửa người vĩnh viễn sau co giật

Sinh lý bệnh

Trạng thái động kinh tạo ra những thay đổi sinh lý có hệ thống. Hiện tượng toan hóa do co cơ và liên quan sự gia tăng lactate. Trước tiên là sự tăng thông khí dẫn đến toan chuyển hóa với pH máu có thể ( 7 , tăng Kali máu, và hoại tử cơ càng làm cho toan hóa tăng lên dẫn đến loạn nhịp tim.

Trong trạng thái động kinh, động kinh liên tục làm tăng hoạt động cơ thể kết hợp tăng hoạt động hệ thần kinh tự chủ gây nên sốt cao gia tăng tiết nước bọt, tăng tiết mồ hôi đưa đến ất nước và nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp, phù phổi do thần kinh có thể xảy ra và làm suy chức năng hô hấp.

Sốt cao có thể gây nguy hại cho chức năng hệ thần kinh, sốt làm tăng tiết mồ hôi, tổn thương tiết niệu kịch phát có thể gây suy thận. Nhiều yếu tố trên phối hợp lại càng làm cho trạng thái động kinh trầm trọng thêm và có nguy cơ tử vong

Thời gian cơn co giật trong trạng thái động kinh kéo dài 20 đến 30 phút là thời kỳ còn bù nên tổn thương não chưa xảy ra, nếu kéo dài 30 đến 60 phút khả năng hoạt động bù giảm, nếu thời gian trạng thái động kinh kéo dài trên 60 phút thì tổn thương thực sự và mất khả năng bù.

Trạng thái động kinh liên quan đến sự gia tăng lactat tạo ra từ não làm cho mạch máu não giãn và hậu quả làm phù não – tăng áp lực nội sọ, vì thế trạng thái động kinh càng kéo dài thì gây hoại tử não khó phục hồi. Ở giai đoạn trạng thái động kinh liên tục kéo dài chụp đện toán cắt lớp, cộng hưởng từ có thể có sự thay đổi như phù não cục bộ hay lan tỏa đặc biệt là vùng hypocampus.


Tổn thương thần kinh liên quan đến thời gian kéo dài co giật là một giả thiết từ một kết quả kích thích sự dẫn truyền thần kinh cũng như làm tăng Calci trong tế bào gây nên chết neuron. Từ cơ sở đó nhiều ý kiến đề nghị sử dụng thuốc bảo vệ thần kinh như hạ thân nhiệt, ức chế kênh calci, đối vận glutamate …

Nguyên nhân

Một số yếu tố phát động thường gặp, bệnh động kinh tự ý ngưng thuốc hay thay đổi thuốc, nhiều trường hợp sau một số ngày điều trị các cơn giảm người bệnh tự ý ngưng thuốc hoặc uống không đầy đủ nguy cơ làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu dễ gây phát động cơn. Những bệnh nhân động kinh uống rượu, bệnh toàn thân kèm theo như nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa, thiếu oxy trong các bệnh hô hấp, hạ đường huyết, sốt cao, kiềm máu rối loạn nước và điện giải đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ gây trạng thái động kinh

Trên nguyên tắc mọi cơn động kinh đều có thể tạo ra một trạng thái động kinh nếu một hoặc nhiều yếu tố khởi phát được tập hợp lại.

Trong trường hợp trạng thái động kinh là triệu chứng của sự xâm phạn não thành ổ thì tai biến mạch máu não lá nguyên nhân thường gặp ( 15 % case), một động kinh cục bộ tiến triển, lan toả thường thấy trong nhiễm trùng hệ thần kinh mà viêm não là một bằng chứng

Một u não, chấn thương sọ não củng là nguyên nhân gây trạng thái động kinh (5-15 % case) lâm sàng thường là động kinh cục bộ hoặc toàn thể hoá khó kiểm soát

Khi trạng thái động kinh là triệu chứng của rối loạn lan toả trong não thì yếu tố nguyên nhân rất nhiều : trước tiên là tình trạng rối loạn nước điện giả hạ đường huyết, tăng đường huyế thiếu oxy, suy thận, suy chức năng gan, ngộ độc, thuốc chống trầm cảm…

Khoảng 15-20 %case không tìn thấy nguyên nhân, vì thế việc tiên lượng trạng thái động kinh phụ thuộc vào một động kinh tồn tại trước đó

Bảng 2 : Nguyên nhân trạng thái động kinh

Nhóm 1 : Nguyên nhân tĩnh (static)
  • Tình huống co giật của bệnh động kinh 
  • Nghiện rượu và sử dụng các chất nghiện 
  • Ngưng thuốc điều trị động kinh 
  • Sự hỗn hợp nhiều yếu tố mà không rõ nhóm nào 
Nhóm 2 : Nguyên nhân cấp
  • Thiếu oxy não 
  • Tai biến mạch máu não 
  • U hệ thần kinh trung ương 
  • Chấn thương sọ não cấp 
  • Bệnh não do chuyển hóa 
  • Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (viêm não, viêm màng não) 
Điều trị

Trạng thái động kinh là một cấp cứu nội khoa, tiên lượng sinh mạng bệnh nhân phụ thuộc vào rối loạn thần kinh tự chủ (hô hấp, tim mạch) và các tác động sinh hóa của các cơn co giật (toan chuyển hóa). Trạng thái động kinh càng kéo dài tổn thương não càng trầm trọng và không hồi phục. Trong điều trị việc cắt cơn phải phối hợp cấp cứu hô hấp, cân bằng nước điện giải, điều chỉnh toan chuyển hóa, chống phù não. Tất cả trạng thái động kinh dù cơn nguyên phát toàn thể hay cục bộ đều coi là triệu chứng, sau công việc điều trị cắt cơn, điều tra nguyên nhân đối với thể lâm sàng khởi đầu trạng thái động kinh, những hiểu biết về một bệnh sử có động kinh và phát hiện thêm những nguyên nhân phát động (nhiễm trùng, hạ đường huyết, hạ natri máu).

Điện não đồ (EEG) là một kỹ thuật cận lâm sàng dễ thực hiện, vì thế trong cấp cứu trạng thái động kinh cần kết hợp giữa lâm sàng và EEG để chẩn đoán và theo dõi điều trị.

Nguyên tắc cơ bản hướng dẫn điều trị:

bullet


Bằng mọi cách cắt cơn trước 90 phút

bullet

Các thuốc điều trị cắt cơn dùng đường TM

bullet

Kết hợp benzodiazepin (tác dụng ngay lập tức) và phenytoin (tác dụng kéo dài) phải được coi là phương thức điều trị hàng đầu vì tính hiệu quả và an toàn tương đối

bullet

Điều trị các yếu tố khởi phát là một điều kiện chủ yếu quyết định tính hiệu quả trong điều trị trạng thái động kinh

bullet

Khi trạng thái động kinh đã được kiểm soát, ngay sau đó tiến hành điều trị củng cố bằng đường uống, tiếp đó tiến hành đánh giá lại bệnh động kinh

KHUNG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
1. 0-9 phút:
  • Kiểm tra tình trạng hô hấp, tuần hoàn; xử trí ngay 
  • Xem xét bệnh sử, khám thần kinh và tổng quát 
  • Đặt đường truyền tĩnh mạch, XN: đường, khí máu, BUN, ion đồ, SGOT, SGPT, nộng độ thuốc động kinh, chất độc 
  • Đặt đường thở và thở oxy nếu cần thiết 
  • Truyền TM dung dịch normal-salin 
  • Truyền glucose (25g) và Thiamin B1,100mg 
2. 10-30 phút: Nếu vẫn còn co giật bắt đầu truyền tĩnh mạch:

-Diazepam,
  • Người lớn; 10mg, hay 0,2mg/Kg, nếu cần thiết nhắc lại sau 5 phút có thể cho đến 30mg tấc độ IV 2mg/1 phút. Trẻ em ; 0,2mg/Kg hay 1mg/tuổi nếu cấn nhắc lại liều 0,2mg/Kg 
  • Rectal Diazepam : Là sự lựa chọn nếu không dùng đường IV: 2-5 tuổi liều - 0,5mg /Kg; 6-11 tuổi liều – 0,3mg/Kg; 12 tuổi trở lên – 0,2 mg/Kg. Nồng độ cao trong máu khoảng sau 10 phút 
- Lorazepam
  • Người lớn: 0,1mg/Kg, tổng liều đến 5mg, tốc độ 1mg/1 phút 
  • Trẻ em : 0,1mg/Kg, tổng liều đến 5mg, tốc độ 1-2mg/1 phút 
Điều trị Diazepam hay Clonazepam cho đến khi hết co giật

Nếu không còn co giật :
  • Phenytoin, liều khởi đầu: 20mg/Kg, tốc độ IV 50mg/1 pphút 
  • Theo dõi huyết áp thường xuyên và EEG 
  • Dùng diazepam và clonazepam kết hợp với phenytoin nếu có co giật trong lúc điều trị 
3. 31-60 phút: Nếu co giật dai dẳng, đặt ống nội khí quản (intubate)

- Phenobarbital,
  • Người lớn 20mg/Kg , IV 50mg/1 phút 
  • Trẻ em, 20mg/Kg , IV 25mg/1 phút 
Dùng đường tiêm bắp hay uống tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh và kinh nghiêm của thày thuốc

4. Trên 1 giờ :

Nếu co giật dai dẳng dùng liệu pháp “Barbiturate -Coma”, đặt nội khí
quản và ở khoa săn sóc đặc biệt
- Pentobarbital, liều 5mg/Kg sau đó 1-3mg/giờ có thể cho trong 4 giờ
- Phenobarbital liều cao: 30-120mg / Kg / 24giờ.

Các thuốc sử dụng điều trị trạng thái động kinh

Chỉ định dùng thuốc cắt cơn co giật trạng thái động kinh dựa vào hiệu lực của thuốc tác động nhanh vào não đang hoạt động co giật, nó không phụ thuộc vào tình trạng ý thức và hô hấp.

Thuốc được chọn đầu tiên là diazepam (valium, seduxen) có hiệu lực ngắn (15 phút) IV 0,25mg/kg, liều bolus 10mg trong 2 phút liều khởi đầu khi co giật trong một số trường hợp duy trì thuốc ngủ là không cần thiết, vì thế diazepam và lorazepam chỉ dùng khi co giật tái diễn trước khi dùng phenytoin và kết hợp với phenytoin. Phenytoin một mình nó cũng có tác dụng cắt cơn co giật. Diazepam dùng lâu, liều cao làm giảm ý thức và ngưng hô hấp.

Lorazepam có thuận lợi hơn trong điều trị trạng thái động kinh bởi có tác dụng kéo dài hơn trên hệ thần kinh trung ương so với diazepam. So sánh tác dụng của lorazepam và diazepam là 4mg lorazepam = 10mg diazepam, tương ứng chặn cơn là 76% và 89%, số bệnh nhân ngưng thở thì bằng nhau trên nghiên cứu mù đôi.

Một so sánh tác dụng của hydantoin và lorazepam thì lorazepam có tác dụng tốt hơn trong điều trị trạng thái động kinh (thuốc sử dụng nhiều Canada và Mỹ, chúng ta thường dùng valium hay biệt dược seduxen, ở Châu Aâu thường dùng clorazepam (rivotril) hiệu lực dài hơn valium nhưng thường suy giảm hiệu lực)

Phenytoin, thuốc có thuận lợi kiểm soát cơn co giật do thời gian bàn hủy kéo dài, điều bất lợi làm ảnh hưởng tim mạch vì thế chống chỉ định trong các bệnh tim và huyết áp thấp. Khi dùng một liều lớn và nhanh là rất nguy hiểm, nên chỉ tiêm chậm không bao giờ quá 1mg/kg/1 phút

Phenobarbital là thuốc tác dụng cắt cơn tốt hơn phenytoin, vì thế trạng thái động kinh có co giật cục bộ hay toàn thể tác dụng rất tốt, điều bất lợi là làm giảm ý thức kéo dài mà mục tiêu của điều trị là sau hết cơn bệnh nhân càng tỉnh càng tốt hạn chế tổn thương não khó hồi phục, một bất lợi nữa là ức chế hô ấp và ngưng thở mặc dù trớc khi dùng đã đặt nội khí quản và hô hấp nhân tạo giúp đỡ.

Pentotal là thuốc tác dụng nhanh, kết quả bao giờ cũng có mặc dầu liều cắt cơn thấp hơn liều gây rối loạn ý thức và suy hô hấp.

Những điều trị khác

1) Cấp cứu hô hấp, giải phóng đường hô hấp trên (đặt nột khí quản, cannule, đè lưỡi, tư thế nằm (nằm nghiêng) thở oxy 10 lít/phút)

2) Chức năng tim mạch, trước tiên điều chỉnh nước và điện giải, đo ECG, giảm áp lực phổi đánh giá tình trạng trụy mạch thứ phát, phù phổi cấp, loạn nhịp. Trong thực hành lâm sàng việc kiểm soát được co giật hạn chế rất nhiều các biện chứng khác

3) Hạ thân nhiệt bằng nhiều biện pháp khác nhau kể cả thuốc hạn chế tổn thương não do tăng thân nhiệt.

4) Điều chỉnh nước và điện giải, Normal-salin là dung dịch bù nước có hiệu quả

5) Chống phù não được đặt ra khi trạng thái động kinh kéo dài, tình trạng ý thức suy giảm, kèm những dấu thần kinh cục bộ, mannitol là thuốc được chọn

Điều trị nguyên nhân

Ở những bệnh nhân động kinh thì tiếp tục thuốc đã điều trị, nếu sau trạng thái động kinh triệu chứng thiếu sót thần kinh nhiều hơn làm CTscan, MRI kiểm tra.

Trong cơn sốt co giật trẻ em, sự xuất hiện trạng thái động kinh là yếu tố dự đoán có thể mắc bệnh động kinh do đó tiến hành điều trị ngay với các loại thuốc chống co giật trong thời gian dài.

Những bệnh nhân có co giật lần đầu của trạng thái động kinh không tìm được nguyên nhân hoặc chưa tìm được nguyên nhân ngay thì tiến hành điều trị thuốc chống động kinh ngay, thời gian tùy thuộc vào loại động kinh và mức độ nặng của bệnh.

Nguồn : Gs Chương

Đại cương đột quỵ do não

PGS. TS. Nguyễn Văn Chương

1- ĐẠI CƯƠNG
1.1- Thuật ngữ, khái niệm:

- Đột quỵ não và tai biến mạch máu não là hai tên gọi của một tình trạng tổn thương não cấp tính do mạch máu.

- Đột quỵ não (Stroke) được sử dụng ngày càng nhiều để thay thế thuật ngữ “Tai biến mạch máu não”.

- Thiếu máu não cục bộ tạm thời: tình trạng mất đột ngột chức năng của não bộ và được phục hồi hòan toàn trong vòng 24 giờ, không do chấn th­ương.

1.2- Định nghĩa đột quỵ não

Theo tổ chức y tế thế giới (OMS) đột quỵ não được định nghĩa như sau:

Đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng được đặc trư­ng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồn tại trên 24 giờ hoặc bệnh nhân tử vong trước 24 giờ. Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương.

1.3- Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

1.3.1. Đặc điểm phân bố máu của các động mạch não

Não được t­ưới máu bởi hai hệ động mạch là hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch sống - nền.

- Hệ động mạch cảnh trong: cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não và chia làm 4 ngành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước.

- Hệ động mạch sống - nền: phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới thuỳ thái dương và thuỳ chẩm.

- Hai hệ thống này được nối thông với nhau tại đa giác Willis

1.3.2. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

- L­ưu lượng tuần hoàn não:

Lư­u lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là 50ml/100g não/ phút (chất xám: 80ml/100g não/ phút; chất trắng: 20ml/100g não/ phút).

- Tiêu thụ O2 và glucose của não:

+ Mức tiêu thụ O2 trung bình 4ml oxy/100g não/phút, tiêu thụ glucose trung bình 6mg/100g não/phút.

+ Nhu cầu về O2 và glucose của não cần được đáp ứng liên tục và ổn định. Tế bào não không có dự trữ oxy, còn lượng đường dự trữ chỉ có thể đủ sử dụng trong vòng 2 phút.

1.4. Phân loại đột quỵ não trên lâm sàng

- Đột quỵ thiếu máu:

Chiếm 75-80% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:
  • Huyết khối động mạch não.
  • Tắc mạch não.
  • Hội chứng lỗ khuyết.
- Đột quỵ chảy máu:

   Chiếm 20-25% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:

+ Chảy máu não.

+ Chảy máu dưới nhện.

2- NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

2.1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ: có thể được chia thành hai nhóm;

2.1.1. Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được gồm:

- Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền...

- Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
  • Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ Nam/Nữ là 2,2/1).
  • Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng.
  • Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ. Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn.
  • Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trể em là thấp nhất.
2.1.2. Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được gồm:

Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động...

Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp, sau đó là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác.

2.2. Cơ chế bệnh sinh

- Đột quỵ chảy máu
  • Ở ng­ười lớn: tăng huyết áp, bệnh động mạch thoái hóa dạng tinh bột, dị dạng mạch, bệnh máu, nhồi máu não, do thuốc.
  • Ở trẻ em: vỡ phình mạch.
  • Ở sơ sinh: thiếu vitamin K, thiếu prothrombin.
- Đột quỵ thiếu máu não:
  • Do tắc mạch.
  • Do huyết khối động mạch não.
3. LÂM SÀNG

3.1. Đặc điểm lâm sàng chung của tai biến mạch máu não

3.1.1. Bệnh khởi phát đột ngột: bệnh nhân đang làm việc, sinh hoạt bình thường đột nhiên xuất hiện các triệu chứng thần kinh khu trú. Các triệu chứng có thể khơỉ phát và đạt mức độ nặng nề tối đa ngay từ đầu (thường gặp trong các trường hợp chảy máu não) hoặc khởi phát đột ngột và tiến triển nặng dần lên hoặc tiến triển nặng lên thành từng nấc (trong các trường hợp nhồi máu não).

3.1.2. Các triệu chứng thần kinh khu trú:

- Các triệu chứng vận động:
  • Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người.
  • Có thể liệt đối xứng.
  • Nuốt khó.
  • Rối loạn thăng bằng.
  • Liệt dây VII trung ương
- Rối loạn ngôn ngữ:
  • Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói.
  • Khó khăn khi đọc, viết.
  • Khó khăn trong tính toán.
  • Nói khó (kết hợp với triệu chứng khác).
- Các triệu chứng cảm giác:
  • Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửa người).
  • Thị giác (mất nhìn một bên mắt, bán manh, mất nhìn cả hai bên, nhìn đôi kết hợp với triệu chứng khác).
- Các triệu chứng tiền đình: cảm giác chóng mặt quay.

- Các triệu chứng tư ­ thế hoặc nhận thức:

Khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc, đánh răng, rối loạn định h­ướng không gian, gặp khó khăn trong việc mô phỏng lại hình vẽ cái đồng hồ, bông hoa... hoặc hay quên.

3.1.3. Các triệu chứng thần kinh khác: rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn thực vật v.v...

4. CẬN LÂM SÀNG

4.1. Xét nghiệm dịch não tuỷ

- Trong đột quỵ chảy máu: dịch não tuỷ có máu, đỏ đều 3 ống, không đông, vi thể thấy hồng cầu dày đặc vi trường, áp lực DNT có thể tăng.

- Trong huyết khối và tắc mạch, dịch não tuỷ trong suốt, không màu, vi thể không có hồng cầu.

- Tuy nhiên trong chảy máu não cũng có thể có khoảng 10-15% trường hợp trong dịch não tuỷ không có hồng cầu.

4.2. Chụp xquang cắt lớp vi tính (CT.Scan)

- Đối với đột quỵ chảy máu: biểu hiện tăng tỷ trọng trong tổ chức não và/hoặc trong khoang dịch não tuỷ (não thất, các bể não và khoang dưới nhện).

- Đối với nhồi máu não:

+ Ở giai đoạn cấp tính: có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo, mờ nhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm đậm độ vượt quá 2/3 vùng phân bố của động mạch não giữa…).

+ Ở sau giai đoạn cấp tính: có các ổ giảm tỷ trọng hình thang, hình tam giác, hình oval hoặc hình dấu phảy. Tỷ trọng thay đồi theo thời gian.

5. CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ NÃO

5.1. Chẩn đoán quyết định

- Chẩn đoán lâm sàng : căn cứ vào định nghĩa đột quỵ não của Tổ chức y tế thế giới

- Chẩn đoán cận lâm sàng: dựa vào xét nghiệm dịch não tuỷ, chụp cắt lớp vi tính sọ não…

5.2. Chẩn đoán phân biệt chảy máu não và nhồi máu não

5.2.1. Căn cứ vào lâm sàng

SSS=(2,5x đau đầu)+(2x nôn, buồn nôn)+(2 x ý thức)+(0,1x huyết áp tâm trương)

- (3 x dấu hiệu vữa xơ)-12

Có nhiều thang điểm lâm sàng để chẩn đoán phân biệt đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu, nhưng trên lâm sàng thường vận dụng các thang điểm sau:

- Thang điểm Siriraij (Siriraij Score Scale):
* Cách tính điểm:

+ Đau đầu : nếu có tính 01 điểm; không có: 0 điểm

+ Ý thức: bình thường tính 0 điểm; tiền hôn mê 01điểm; hôn mê 02 điểm

+ Các biểu hiện vữa xơ là:

Tiểu đường, khập khiễng cách hồi, thành động mạch cứng…

Có biểu hiện vữa xơ tính 01 điểm; không có: 0 điểm

* Đánh giá kết quả:

SSS < -1: chẩn đoán là nhồi máu não

SSS > +1: chẩn đoán là chảy máu não

-1< SSS < +1: SSS trong khoảng từ -1 đến + 1, chẩn đoán không chắc chắn.

- Thang điểm lâm sàng đột quỵ não (Clinical Stroke Score = CSS):

Bộ môn - Khoa Thần kinh Bệnh viện 103 HVQY đã nghiên cứu xây dựng và khảo sát lại bảng điểm lâm sàng đột quỵ não để chẩn đoán phân biệt hai thể đột quỵ não từ năm 2005 có độ chính xác cao và sử dụng thuận tiện.

Bảng điểm lâm sàng đột qụy não (CSS)-Thang điểm của Bộ môn- Khoa Thần kinh Học viện Quân y (2005)

STT
Triệuchứng
Điểm
1
Bị đột ngột và nặng tối đa ngay từ đầu (các triệu chứng không thay đổi hoặc giảm đi sau khởi phát)
1
2
Đau đầu (xuất hiện đột ngột, trong vòng 2 giờ sau khởi phát, cường độ dữ dội, tồn tại dai dẳng nhiều ngày)
1
3
Nôn và/hoặc buồn nôn
1
4
RL ý thức
1
5
  -5-
RL cơ vòng
1
6
HA tâm thu khi khởi phát từ 190mmHg trở lên
1
7
Có dấu hiệu màng não (cứng gáy dương tính)
1
8
Co giật hoặc kích thích vật vã
1
9
Quay mắt-quay đầu về một bên
1
10
Co cứng mất vỏ-duỗi cứng mất não
1
 Cộng
10 Điểm

* Ứng dụng trên lâm sàng như sau:

+ Tổng số điểm lâm sàng đột quỵ = 10.

+ Bệnh nhân có từ 0 đến 02 điểm CSS được chẩn đoán là đột quỵ thiếu máu não (nhồi máu não).

+ Bệnh nhân có từ 03 điểm trở lên được chẩn đoán là đột quỵ chảy máu.

5.2.2.2. Cận lâm sàng:

- Xét nghiệm dịch não tuỷ.

- Chụp CT.Scan

6- ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị đột quỵ não gồm các công việc chính sau:

6.1. Duy trì chức năng sống, điều chỉnh các hằng số sinh lý

- Duy trì chức năng sống: các bư­ớc A,B,C, D, cụ thể:

A- Giữ thông đ­ường thở (Airway): lau đờm rãi tháo răng giả…

B- Bảo đảm khả năng thở (Breathing) cho bệnh nhân cả về tần số và biên độ. Nếu cần phải thực hiện hô hấp hỗ trợ, thở oxy.

C- Bảo đảm tuần hoàn (Circulation): điều chỉnh huyết áp, nhip tim....

D- Thuốc (Drugs)

- Điều chỉnh các hằng số sinh lý: đ­ường huyết, n­ước - điên giải, chức năng gan, thân...

6.2. Chống phù não:

- Nằm đầu cao 300.

- Đảm bảo thông khí.

- Giảm thân nhiệt (Hypothermia).

- Truyền dich: Manitol

6.3. Điều trị theo thể bệnh

Việc điều trị cần khẩn trương và chuyên hoá cao biểu hiện bằng 2 khẩu hiệu của Hội Đột quỵ Thế giới:

- Thời gian là não (Time Is Brain).

- Sự tinh nhuệ là não (Competence Is Brain).

Để đảm bảo yêu cầu trên xu hướng chung của thế giới là đưa bệnh nhân tới chăm sóc và điều trị tại các trung tâm đột quỵ.

6.3.1. Đột quỵ chảy máu:

- Dùng thuốc cầm máu: Hemocaprol, Transamin: dùng sớm trong 2-3 ngày đầu của bệnh.
-6-


- Dùng thuốc chống thiếu máu não thứ phát bằng Nimodopin (Nimotop tiêm truyền hoặc qua đường uống).

- Bổ sung điện giải (K+).

6.3.2. Đột quỵ thiếu máu

Dùng các thuốc sau:

6.3.2.1. Các thuốc phục hồi, cải thiện dòng máu:

- Thuốc tiêu huyết khối (thrombolytic) như Urokinase, Streptokinase và recombinant Tissue Plasminogen Activator (r-TPA).

+ BN trong thời gian cửa sổ điều trị (treatment time window).

+ Chỉ định chặt chẽ.

- Thuốc chống đông: Heparin tiêm tĩnh mạch, liều trung bình 2500 UI, 6 giờ dùng một lần, cần theo dõi thời gian Howell hoặc thời gian Quick để điều chỉnh l­ượng, dùng 7-10 ngày.. Thời gian sau chuyển dùng Aspirin.

- Thuốc chống kết tập tiểu cầu: aspirin, dipyridamol, clopidogrel, ticlopidyl.

6.3.2.2. Các thuốc bảo vệ và tăng cường dinh d­ưỡng não (các thuốc bổ sung cơ chất và tăng cường tuần hoàn).

6.4. Điều trị triệu chứng:

- Dùng kháng sinh chống bội nhiễm. chống co giật, hạ sốt, an tĩnh, chống đau đầu....khi có chỉ định.

6.5. Chế độ dinh dư­ỡng, chăm sóc hộ lý, phục hồi chức năng

6.6. Các phư­ơng pháp điều trị khác:

- Điều trị phẫu thuật:

+ Lấy ổ máu tu, lấy cục máu đông trong lòng mạch, Bypass, stenting...

+ Mở sọ giải phóng chèn ép...

- Cấy tế bào phôi (stem cells)

6.7. Điều trị dự phòng cấp 2 sớm

7. DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO

- Phòng bệnh cấp I: Ngăn ngừa đột quỵ xuất hiện.

Tổ chức phòng và điều trị các yếu tố nguy cơ đại trà trong cộng đồng.

- Phòng bệnh cấp II: Ngăn ngừa đột quỵ tái phát.

Tổ chức điều trị theo từng bệnh nhân và từng thể bệnh cụ thể.