Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Đột quỵ do thiếu máu não


I. Định nghĩa
Đột quỵ là tình trạng đột ngột khởi phát các khiếm khuyết thần kinh cục bộ hơn là toàn thể, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ, phản ánh tổn thương não bộ, do bất thường hệ thống mạch máu não một cách tự phát (loại trừ nguyên nhân chấn thương).
 Thiếu máu não là nhóm đột quỵ do mạch máu não bị tắc nghẽn và/hoặc giảm lưu lượng do cơ chế huyết động
Cơn thoáng thiếu máu não là tình trạng khiếm khuyết thần kinh cục bộ do thiếu máu não xảy ra đột ngột nhưng hồi phục hoàn toàn không để lại di chứng trong vòng 24 giờ. Tuy nhiên, hầu hết các cơn thoáng thiếu máu não đều hồi phục trong vòng 1giờ, và với sự phát triển của hình ảnh học, người ta thấy phần lớn các cơn thoáng thiếu máu kéo dài trên 1 giờ đều đã có tổn thương não thấy trên cộng hưởng từ. Vì vậy một định nghĩa mới được đề xuất cho cơn thoáng thiếu máu
não là khiếm khuyết thần kinh hồi phục hoàn toàn trong vòng 1 giờ và không có tổn thương trên hình ảnh cộng hưởng từ.
II.         Nguyên nhân
1.         Thiếu máu não do bệnh lý mạch máu lớn
Phổ biến nhất là xơ vữa động mạch lớn; mảng xơ vữa làm hẹp động mạch, cùng với cục huyết khối hình thành trên mảng xơ có thể làm tắc mạch tại chỗ, gây lấp mạch đoạn xa, hoặc làm giảm lưu lượng máu vùng xa.
Ngoài ra còn có bóc tách động mạch, loạn sản cơ sợi, tắc động mạch do viêm (ví dụ Takayasu)…
2.         Thiếu máu não do bệnh lý mạch máu nhỏ
Liên quan đặc biệt đến tăng huyết áp. Huyết áp tăng mạn tính dẫn đến tổn thương các động mạch xuyên nhỏ, sâu trong nhu mô não, khiến các động mạch này tắc nghẽn, gây nhồi máu nhỏ, gọi là nhồi máu lỗ khuyết. Các động mạch xuyên có thể tổn thương do thoái hóa lắng đọng lipohyalin, hoại tử fibrin, hoặc hình thành các vi phình mạch Charcot Bouchard với biến chứng tạo huyết khối gây tắc mạch.
Bệnh mạch máu nhỏ còn có thể xảy ra do viêm mạch, do thuốc gây nghiện…
3.         Thiếu máu não do lấp mạch từ tim
Các bệnh tim làm tăng nguy cơ hình thành cục huyết khối trong buồng tim, là nguồn cung cấp vật liệu gây lấp mạch não. Bệnh lý thường gặp nhất gây lấp mạch não là rung nhĩ, đơn thuần hoặc kết hợp với bệnh van tim, chủ yếu là hẹp van hai lá.
Các bệnh tim mang nguy cơ lấp mạch cao ngoài rung nhĩ còn có cuồng nhĩ kéo dài, hội chứng suy nút xoang, huyết khối nhĩ, tiểu nhĩ trái, u nhầy nhĩ trái, hẹp van hai lá, van cơ học, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, không nhiễm trung, u nhầy thất trái, nhồi máu cơ tim mới thành trước, bệnh cơ tim giãn nở
4.  Thiếu máu não do bệnh lý huyết học, chiếm tỉ lệ thấp
Các bệnh lý tăng số lượng tế bào máu như đa hồng cầu, tăng tiểu cầu, bệnh bạch cầu, và các trạng thái tăng đông di truyền hoặc mắc phải
III. Chẩn đoán
1.  Công việc chẩn đoán
a)  Hỏi bệnh sử: chú ý hoàn cảnh khởi phát bệnh, giờ khởi phát, tính đột ngột của khởi phát, các triệu chứng thần kinh lúc khởi phát, tiến triển của các triệu chứng này, các triệu chứng kèm theo như nhức đầu, nôn ói, ngã chấn thương, co giật.
b)  Khám lâm sàng
Đánh giá ý thức, dùng thang điểm hôn mê Glasgow
Xác định các khiếm khuyết thần kinh, đánh giá bằng thang điểm đột quỵ NIH (NIHSS) Đánh giá phân loại lâm sàng bằng phân loại OCSP (Bamford)
Đánh giá chức năng sinh hoạt bằng chỉ số Barthel
Đánh giá kết cục bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS)
c)  Cận lâm sàng
* Cận lâm sàng thường quy
-   Xét nghiệm máu: Công thức máu, đông máu toàn bộ, đường huyết, ion đồ, chức năng gan (AST, ALT, Bilirubin), chức năng thận (BUN, Creatinin), bilan lipid máu (TG, Chol, LDL-C, HDL-C), men tim, tổng phân tích nước tiểu
-   Điện tim, X quang ngực thẳng
*  Cận lâm sàng để chẩn đoán xác định
-   CT scan não không cản quang: có ưu điểm là thực hiện nhanh, giá rẻ hơn MRI, phổ biến, phân biệt nhanh và rõ giữa xuất huyết não với nhồi máu não; tuy nhiên có thể không thấy được tổn thương thiếu máu não sớm, hoặc thiếu máu vùng thân não.
-   MRI não không tiêm thuốc: chú ý bao gồm các xung khuếch tán (phát hiện tổn thương thiếu máu não từ rất sớm), TOF 3D (khảo sát mạch máu não không cần tiêm thuốc); ưu điểm khảo sát tốt thân não, thấy được tổn thương thiếu máu não rất sớm, thấy được các tổn thương nhỏ, có thể phân biệt tốt với xuất huyết não (xung T2*W) và thấy được các vi xuất huyết; Nhược điểm là đắt tiền, thời gian khảo sát lâu không phù hợp nếu bệnh nhân có rối loạn ý thức, rối loạn huyết động, hô hấp... cần theo dõi sát, và không khảo sát được nếu có dị vật kim loại, có máy tạo nhịp…
*  Cận lâm sàng tìm nguyên nhân
-   Nguyên nhân mạch máu: siêu âm duplex động mạch vùng cổ, Doppler xuyên sọ, CT mạch máu (CTA), hoặc cộng hưởng từ mạch máu (MRA) vùng cổ và mạch máu não; Đôi khi có thể dùng DSA khi có chỉ định đặc biệt
-   Nguồn lấp mạch từ tim: điện tim, holter ECG, siêu âm tim, siêu âm tim qua thực quản, Doppler xuyên sọ với tiêm bọt khí tìm tín hiệu thuyên tắc.
-   Nguyên nhân huyết học: định lượng các yếu tố tăng đông (Protein S, protein C, antithrombin III, yếu tố V Leyden, Fibrinogen, kháng thể kháng phospholipid), huyết đồ, tủy đồ khi cần
-   Các bệnh lý tự miễn (dành cho nhồi máu não người trẻ): kháng thể kháng nhân (ANA pha loãng), anti ds DNA, giang mai (RPR, TPHA), CRP
-   Sinh thiết mạch máu não, sinh thiết mạch máu ngoại vi khi có nghi ngờ nguyên nhân viêm mạch
2. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán lâm sàng: khởi phát đột ngột, khiếm khuyết thần kinh cục bộ, tổn thương được định  vị ở não bộ, theo phân bố một động mạch não hoặc một nhánh, không do chấn thương
Chẩn đoán cận lâm sàng:
-   CT scan não không cản quang: tổn thương giảm đậm độ nhu mô não thuộc chi phối của một động mạch hoặc một nhánh của nó; nếu chụp sớm có thể không thấy tổn thương giảm đậm độ nhu mô, khi đó vẫn phân biệt được với xuất huyết não (không có tổn thương tăng đậm độ nhu mô não) và xuất huyết dưới nhện (không có tăng đậm độ trong các bể dịch não tủy, các khe, và các rãnh vỏ não); và vẫn chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não nếu lâm sàng là đột quỵ, sau đó có thể chụp lại
CT scan não sau 24 giờ hoặc chụp MRI não.
-   MRI não: xác định tổn thương não, vị trí, kích thước, tổn thương theo phân bố tưới máu của một động mạch não; xung khuếch tán giúp phát hiện các tổn thương cấp tính từ rất sớm, xung T2*W giúp nhận biết tốt tổn thương xuất huyết não.
3. Chẩn đoán phân biệt
-   Các dạng bệnh mạch máu não khác: xuất huyết não,  xuất huyết dưới nhện, huyết khối tĩnh mạch nội sọ
-   Liệt sau cơn động kinh (liệt Todd)
-   Liệt trong migraine
-   Hạ đường huyết
-   Khối choán chỗ nội sọ
-   Rối loạn chuyển dạng
IV.       Điều trị
1.         Nguyên tắc hoặc mục đích điều trị
-   Tái thông mạch máu để phục hồi tưới máu não
-   Đảm bảo tưới máu não để hạn chế lan rộng tổn thương, cứu vùng tranh tối tranh sáng (là vùng giảm tưới máu, rối loạn chức năng, nhưng chưa hoại tử thiếu máu)
-   Chống biến chứng, chống tái phát sớm
-   Phục hồi chức năng và phòng ngừa tái phát
2.         Điều trị đặc hiệu
Thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch: triển khai trong tương lai gần (xem phác đồ rtPA)
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 4,5 giờ sau khởi phát,
có khiếm khuyết thần kinh đáng kể, không quá nhẹ cũng không quá nặng (NIHSS
từ 5-25 điểm), không có xuất huyết và không có các chống chỉ định khác.
-   Thuốc dùng: rtPA (Actilyse) liều 0,6-0,9 mg/kg, tối đa 90mg, liều đầu 10% bolus
TM, còn lại TTM trong 60 phút
-   Chi tiết xem phác đồ và quy trình điều trị tiêu huyết khối
Thuốc tiêu huyết khối đường động mạch: chưa triển khai thực hiện
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 6 giờ từ lúc khởi phát, các tiêu chuẩn khác tương tự thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch, bệnh nhân có thể chưa được dùng thuốc đường tĩnh mạch hoặc đã sử dụng nhưng chưa tái thông được
-   Thuốc dùng: rtPA, bơm trực tiếp vào cục huyết khối gây tắc mạch
Tái thông mạch máu bằng dụng cụ cơ học: chưa triển khai thực hiện
-   Thực hiện trong protocol nghiên cứu
-   Dùng cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 - 9 giờ từ lúc khởi phát, có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc đường tĩnh mạch, động mạch
-   Dụng cụ: hệ thống Mercy Retrieval hoặc Penumbra
3.         Điều trị chung
a.  ABC: Đảm bảo đường thở thông thoáng (A), thông khí đầy đủ (B), và tuần hoàn ổn định
(C).
b.  Oxy qua sonde mũi: 2-4 l/p, chỉ định khi có thiếu Oxy, cụ thể khi SpO2 <92%, mục tiêu giữ SpO2 từ 95-100%
c.  Chỉ định nội khí quản:
-           Thiếu Oxy, suy hô hấp, rối loạn nhịp thở
-           Hôn mê, nguy cơ hít sặc cao.
d.  Dịnh truyền:
-           1,5 - 2 lít/ngày; chọn Ringer lactate, muối đẳng trương, tránh dùng glucose
e.  Điều chỉnh huyết áp
Không điều chỉnh hạ huyết áp trong giai đoạn cấp, trừ khi:
i.  Bệnh nhân được điều trị bằng tPA, hoặc
ii.  Bệnh nhân có tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp cấp (suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, bệnh não do tăng huyết áp, phình động mạch chủ bóc tách …), hoặc
iii.  Huyết áp tâm thu hơn 220 mmHg hoặc tâm trương 120 mmHg
Nếu cần điều trị tăng huyết áp, xem xét dùng các thuốc hạ áp tĩnh mạch tác dụng ngắn như nicardipine (Loxen) hoặc labetalol (Trandate - hiện không có thuốc) để dễ dàng chỉnh liều phù hợp, với mục tiêu giảm 10-15% trị số huyết áp; không dùng nifedipine nhỏ dưới lưỡi.
Ở bệnh nhân có tụt huyết áp (hiếm gặp), cần tìm nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân, khi cần có thể dùng vận mạch
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRONG THIẾU MÁU NÃO CẤP  ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ TẠI KHOA THẦN KINH BVCR
f.  Sốt:
-           Hạ sốt bằng các biện pháp vật lý (lau mát), dùng thuốc paracetamol.
-           Tìm và điều trị nguyên nhân; dùng kháng sinh nếu có nhiễm trùng
g.  Điều chỉnh đường huyết
-           Mục tiêu giữ đường huyết <150 mg/dL
-           Dùng Insulin tiêm dưới da hoặc insulin truyền tĩnh mạch
PHÁC ĐỒ SỬ DỤNG INSULIN TRONG GIAI ĐOẠN CẤP
h.  Chống tái phát sớm, xử lý trường hợp diễn tiến xấu (trở nặng)
-           Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc kháng đông khi có chỉ định (bảng)
-           Tìm nguyên nhân và xử lý thích hợp trường hợp trở nặng (bảng)
i.          Phòng và điều trị biến chứng:
*        Chống tăng áp lực nội sọ
-           Thông khí đầy đủ, tránh ứ CO2, có thể can thiệp tăng thông khí cơ học nếu có biểu hiện tăng áp lực nội sọ dọa phù não, với pCO2 mục tiêu là 25-35 mmHg
-           Tư thế nằm: cho nằm đầu cao 30 độ sau 24 giờ với điều kiện không có rối loạn huyết động và không có tắc hẹp đáng kể các động mạch lớn
-           Xem xét phẫu thuật giải áp ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng (nhồi máu ác tính động mạch não giữa)
-           Liệu pháp thẩm thấu: Mannitol 20%, TTM 100 giọt/phút với liều 0,25g/kg mỗi 6 giờ; hiệu quả không nhiều và không kéo dài với tăng áp lực nội sọ do nhồi
máu não, do đó cần cân nhắc kỹ, nhất là với các bệnh nhân có nguy cơ quá tải
tuần hoàn, có bệnh lý tim mạch cần hạn chế dịch…
*        Chống nhiễm trùng
-           Xoay trở, tránh ứ đàm, tránh hít sặc, tập vật lý trị liệu hô hấp
-           Cho ngồi sớm ngay khi không còn các chống chỉ định
-           Chỉ đặt sonde tiểu khi thật sự cần thiết
-           Dùng kháng sinh phù hợp khi có dấu hiệu nhiễm trùng
*        Chống loét
-           Dinh dưỡng đầy đủ
-           Xoay trở thường xuyên, thay đổi điểm tì, dùng nệm hơi chống loét
-           Giữ da khô sạch, chú ý các điểm tì đè dễ loét
*         Chống huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc phổi
-           Xoay trở, xoa bóp và tập vận động sớm các chi
-           Cho ngồi, cho vận động sớm ngay khi không còn chống chỉ định
-           Dùng vớ đàn hồi với các đối tượng nguy cơ
-           Xem xét dùng heparin trọng lượng phân tử thấp liều phòng ngừa cho các đối tượng nguy cơ cao
-           Phát hiện sớm huyết khối tĩnh mạch sâu và điều trị kháng đông
-           Phát hiện sớm thuyên tắc phổi và điều trị kịp thời
j.          Phục hồi chức năng:
o  Gồm vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, và tái hòa nhập cộng đồng o  Tập sớm ngay khi lâm sàng cho phép
o  Mục tiêu: tránh biến chứng (nhiễm trùng, loét, huyết khối tĩnh mạch, cứng cơ teo cơ…), cải thiện các khiếm khuyết thần kinh, thích nghi với các khiếm khuyết còn lại và tái hòa nhập cộng đồng
k.  Chống tái phát:
o  Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, dùng kháng đông khi có chỉ định
o  Dùng statin điều chỉnh lipid máu và bảo vệ thành mạch: xem xét dùng liều cao ở các bệnh nhân nhiều yếu tố nguy cơ (ví dụ dùng atovastatin liều cao 40-80 mg/ngày)
o  Với bệnh nhân hẹp động mạch cảnh nặng bên có triệu chứng: xét phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh hoặc can thiệp nội mạch nong và đặt stent. Với hẹp động mạch nội sọ, chưa có khuyến cáo rõ và hiện chưa triển khai tại bệnh viện Chợ Rẫy việc can thiệp nội mạch nong và đặt stent, do đó hiện tại chỉ điều trị nội với lưu ý các bệnh nhân này được xếp vào nhóm nguy cơ tái phát cao.
o  Điều chỉnh lối sống, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là tăng huyết áp và đái tháo đường
HƯỚNG DẪN XỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG
Xác định nguyên nhân và xử lý:
1.  Đột quỵ lan rộng
Xảy ra khi có hẹp hoặc tắc động mạch và có biến đổi huyết động học vì bất cứ nguyên nhân nào. Không có bằng chứng về vai trò của điều trị kháng đông, xử trí chính là giải quyết sớm vấn đề tắc/hẹp động mạch.
Chủ yếu là phòng ngừa hơn là điều trị sau khi đã xảy ra. Cần khảo sát động mạch sớm bằng TCD, CTA, MRI. Có thể làm CT hoặc MRI perfusion để đánh giá diện tích vùng giảm tưới máu. Hoặc nếu không có perfusion, chỉ cần thấy tổn thương MRI DW nhỏ nhưng có hiện diệntắc động mạch lớn thì bệnh nhân có nguy cơ rất cao, cần can thiệp sớm, ví dụ tiêu huyết khối tĩnh mạch dù NIHSS thấp, can thiệp động mạch, CEA, nong và stent ĐM cảnh.
2.  Giảm áp lực tưới máu não
Mô não thiếu máu bị mất cơ chế tự điều hoà, giảm huyết áp sẽ làm giảm lưu lượng máu tới vùng tranh tối tranh sáng, có thể ảnh hưởng cả vùng vỏ và dưới vỏ, trong đó vùng dưới vỏ THBH nghèo nàn nên có nguy cơ cao nhất  bị tổn thương thêm do giảm tưới máu.
HA trung bình (HATB) phải ở mức trước đột quỵ trong 24 giờ đầu; nói chung ít nhất 130 ở người THA, 110 ở người HA bình thường.
Nếu HA xuống dưới mức này, hoặc nếu LS trở nặng: điều chỉnh nâng HATB bằng dịch truyền và có thể thuốc vận mạch. Giữ tư thế đầu nằm ngang hoặc không quá 15 độ
3.  Đột quỵ tái phát
Ở BN rung nhĩ, nguy cơ tái phát là 5-8% trong hai tuần đầu. Không có dữ liệu về lợi ích của kháng đông tức thì hoặc sớm.
MRI thấy có tái phát ở 34% bệnh nhân trong tuần đầu, trong khi lâm sàng chỉ có 2%.
Dùng kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ khi đã xác định bằng hình ảnh học lặp lại rằng nhồi máu kích thước nhỏ, còn nếu lớn thì không có chuyển dạng xuất huyết hoặc phù do mạch đã được giải quyết; thường chờ trung bình 48-96 giờ từ lúc bị đột quỵ
Xơ vữa động mạch lớn cũng tăng nguy cơ tái phát do đó phải thực hiện tái thông động mạch cảnh sớm (phẫu thuật bóc nội mạc hoặc can thiệp nong và stent)
4.  Phù não và hiệu ứng choán chỗ
Là vấn đề trong nhồi máu diện rộng, như nhồi máu lớn động mạch não giữa ảnh hưởng đến các hạch nền, thường cũng kèm tổn thương ĐM não trước và não sau, và nhồi máu tiểu não diện rộng; Quan trọng ở người trẻ, vì não không teo nên không có nhiều khoảng trống nội sọ như người lớn tuổi
Theo dõi ghi nhận bất kỳ biến đổi thần kinh, giảm mức ý thức, tăng huyết áp, thở chu kỳ, nấc cụt, nhức đầu, bất thường dây sọ mới xuất hiện, và đồng tử (muộn)
Điều trị nội
*  Quan trọng nhất là chăm sóc tốt
-           Tư thế đầu ≤150
-           Điều chỉnh ngay sốt, rối loạn điện giải, tăng đường huyết
-           Tối ưu hoá một cách thận trọng HA trung bình (MAP) và cung lượng tim để đảm bảo tưới máu
não đủ
*   Không dùng corticoid
*   Liệu pháp thẩu thấu (mannitol) hiệu quả tạm thời cho một số trường hợp
Liều: mannitol 0,5-1g/kg truyền TM trong 30-60 phút, sau đó 0,25g/kg mỗi 6 giờ
Mục tiêu nâng áp lực thẩm thấu lên 10% nhưng không quá 315 mOsm
Kiểm tra áp lực thẩm thấu huyết thanh mỗi 12 giờ và ngưng mannitol nếu >315 mOsm/L
*   Dẫn lưu dịch não tủy bằng phẫu thuật mở não thất nếu có não úng thủy góp phần làm tăng áp lực nội sọ
Điều trị phẫu thuật
*   Hội chẩn phẫu thuật sớm
*   Với nhồi máu diện rộng ĐM não giữa, xem xét phẫu thuật mở bản sọ giải áp sớm (gồm mở lấy bản sọ và rạch màng cứng)
*   Với đột quỵ tiểu não, điều trị thích hợp là giải áp hố sau và cắt bỏ tiểu não
*   Phẫu thuật giải áp là biện pháp cứu sống, dù chưa được chứng minhhiệu quả trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, nhưng hầu hết các chuyên gia đột quỵ đều khuyến cáo áp dụng trong các trường hợp được chọn lọc kỹ dựa trên các báo cáo loạt ca. PT này được khuyến cáo đặc biệt trong đột quỵ tiểu não, vì BN vẫn duy trì chức năng tốt dù mất một phần lớn của tiểu não. Với nhồi máu lớn ĐMNG, phải thảo luận với thân nhân về chất lượng sống sau khi phẫu thuật so với khả năng tử vong. Nhiều chuyên gia không thường thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân nhồi máu lớn MCA trái, vì bệnh nhân nếu sống thường bị mất ngôn ngữ nặng. Tuổi là một yếu tố tiên đoán quan trọng cho kết cục sau phẫu thuật mở sọ giải áp, với kết cục kém ở những bệnh nhân trên 60 tuổi. Kết quả tốt nhất gặp được ở các bệnh nhân trẻ nhồi máu bán cầu không ưu thế được can thiệp sớm.
Tiêu chuẩn xem xét phẫu thuật mở sọ giải áp
-           Khởi phát < 5 giờ với giảm đậm độ > 50% vùng tưới máu ĐM não giữa
-           Khởi phát < 48 giờ, giảm đậm độ toàn bộ vùng tưới máu động mạch não giữa
-           Lệch đường giữa >7,5mm
-           Lệch đường giữa >4mm với ý thức ngủ gà lơ mơ
Các tiêu chuẩn khác cần xem xét
-           Tuổi <60
-           Thể tích nhồi máu trên MRI 145cc
5.  Chuyển dạng xuất huyết
Phải thấy rõ trên CT não không cản quang; Hầu hết các trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng, trừ khi xuất huyết lớn hoặc ở vùng quan trọng.
Phân loại chuyển dạng xuất huyết trên CT:
-           Nhồi máu xuất huyết loại 1 và 2 (HI1 và HI2): xuất huyết dạng etechiae vào vùng nhồi máu, không gây hiệu ứng choán chỗ và hiếm khi có triệu chứng lâm sàng. HI1 là petechiae nhỏ, HI2 là petechiae dính nhau. Khi xảy ra nhồi máu xuất huyết thường không can thiệp gì được nhiều, trừ việc tạm ngưng thuốc chống tiểu cầu và kháng đông cho tới khi chắc chắn rằng không có chảy    máu tiếp diễn trên hình ảnh học kiểm tra.
-           Xuất huyết nhu mô loại 1 và 2 (PH1 và PH2): chảy máu thành khối trong vùng nhồi máu. Nếu khối xuất huyết chiếm trên 30% vùng nhồi máu và tạo hiệu ứng choán chỗ (PH2) thì triệu chứng thần kinh thường xấu đi. Nguy cơ xảy ra PH2 là lý do chính khiến người ta không khuyến cáo dùng kháng đông tức thì sau nhồi máu lấp mạch từ tim, và khi dùng phải chụp CT trước. Khi có PH2, xử trí giống như các xuất huyết não khác.
6.  Rối loạn chuyển hóa
Não đang bị tổn thương sẽ nhạy cảm hơn tác động của các rối loạn chuyển hoá, do đó cần tìm và điều trị tích cực các rối loạn này.
-           Sốt nhẹ hoặc thay đổi Na máu hoặc đường huyết có thể có tác động lâm sàng nặng nề
-           Các nhiễm trùng như đường niệu hoặc hô hấp sẽ làm nặng thêm các triệu chứng thần kinh
-           Giảm cung lượng tim là yếu tố đặc biệt xấu, làm xấu kết cục, cần tránh bằng cách tối ưu hoá lượng dịch và liệu pháp tăng co bóp tim
-           Phát hiện thiếu oxy máu, tìm nguyên nhân và điều trị; cần truy tìm các nguyên nhân: thuyên tắc phổi, viêm phổi, phù phổi
-           Thiếu máu: truyền máu nếu Hb <10g
-           Thuốc an thần cản trở việc chuyển nhanh sang phục hồi chức năng và cũng liên quan tới kết cục xấu, giảm vận động làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu… do đó cần tránh thuốc an thần càng nhiều càng tốt nếu có thể
7.  Co giật
Tần suất: xảy ra ở khoảng 20% bệnh nhân đột quỵ, xuất huyết hơi nhiều hơn nhồi máu.
Trong hầu hết các trường hợp, nếu co giật xảy ra, thường chúng sẽ xảy ra vào lúc khởi phát hoặc trong vòng 24 giờ đầu.
Co giật thường để lại một trạng thái giảm ý thức sau cơn, cũng như làm nặng thêm các dấu thần kinh định vị.
Trạng thái động kinh sau đột quỵ vô cùng hiếm.
Điều trị thuốc chống co giật: chỉ định khi có co giật muộn hoặc co giật tái phát, nên dùng các thuốc chống động kinh không gây an thần, theo thứ tự ưu tiên sau:
o   Lamotrigine 25mg/ngày, điều chỉnh tăng liều mỗi 2 tuần, mỗi lần tăng 50-150mg/ngày.
o   Gabapentin 300mg/ngày, điều chỉnh tăng liều mỗi 3-4 ngày đến liều 1500mg/ngày chia liều.
o   Levetiracetam 500mg mỗi 12 giờ, điều chỉnh liều tăng lên mỗi 2 tuần đến liều 2000 mg/ngày.
8.  Dao động triệu chứng không có nguyên nhân rõ
Một số bệnh nhân xấu đi mà không có lý giải rõ ràng nào. Đây là hiện tượng chưa được hiểu rõ, phổ biến nhất trong đột quỵ dưới vỏ. Thường hiện tượng này xảy ra trong 3 ngày đầu, nhưng vẫn có thể gặp trong vòng 2 tuần sau khởi phát đột quỵ.
Cơ chế không được biết rõ, có thể là giảm tưới máu khu trú, viêm, biến đổi hóa chất thần kinh hoặc chất dẫn truyền thần kinh, chết theo chương trình.
Điều trị chủ yếu là nâng đỡ (duy trì đẳng tích, kiểm tra để đảm bảo không tụt HA, nằm đầu bằng). Điều trị kháng viêm (statins liều cao) và các trị liệu bảo vệ thần kinh khác đang được đánh giá. Một nghiên cứu gần đây về các thuốc bắt giữ gốc tự do cho thấy có cải thiện kết cục ở các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp, từ đó gián tiếp ủng hộ bằng chứng trong phòng thí nghiệm về vai trò quan trọng của quá trình viêm trong việc gây tổn thương sau đột quỵ.
V.   Theo dõi và tái khám
Tái khám mỗi tuần trong tháng đầu, sau đó mỗi hai tuần, khi tình trạng ổn định tái khám mỗi
tháng.
Khám lâm sàng, đánh giá bằng thang điểm NIHSS, chỉ số Barthel, và thang điểm Rankin điều chỉnh.
Đảm bảo kiểm soát huyết áp, kiểm soát đường huyết, dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, hoặc
thuốc kháng đông nếu có chỉ định, giữ INR đạt mục tiêu (2-3 cho rung nhĩ…, 3-4 cho van
nhân tạo), dùng statin (hiệu quả hạ LDL-C, và chống viêm, làm bền vững và có thể thoái triển
mảng xơ vữa)
Tập vật lý trị liệu và tái hòa nhập cộng đồng.
VI.   Lưu đồ chẩn đoán và điều trị
Lưu đồ xử trí chung đột quỵ (xem phác đồ xuất huyết não)
Lưu đồ xử trí đột quỵ thiếu máu não
Xử trí biến chứng khi dùng rtPA
- CT khẩn nếu ý thức hoặc dấu TK định vị xấu đi, để phát hiện xuất huyết não hoặc phù não
- Nếu xuất huyết nguy cơ cao (đặc biệt xuất huyết nội sọ):
o  Ngưng truyền thuốc tiêu huyết khối
o  Lấy máu xét nghiệm đông máu
o  Bù dịch, ép nơi chảy máu nếu được
o  Nếu cần: dùng các sản phẩm máu: yếu tố đông máu, huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu đậm đặc. Mục tiêu fibrinogen 1g/L
o  Hội chẩn ngoại khoa nếu cần

Theo BS Nguyễn Bá Thắng - Khoa-Bộ Môn Thần Kinh, BVCR-ĐHYD TPHCM

Trạng thái động kinh

Tóm tắt:

Trạng thái động kinh một tình trang cấp cứu cần thiết phải có chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Kết quả điều trị phụ thuộc vào chẩn đoán đầu tiên, cơ chế sinh bệnh để lượng giá và điều trị. Thể lâm sàng thường gặp trong trạng thái động kinh là co giật toàn thể từ tình trạng động kinh cục bộ hay động kinh toàn thể.

Những trình tự các bước điều trị:

1.Chẩn đoán trạng thái động kinh, 
2 .Theo dỏi và đánh giác chức năng sinh tồn
3. Đặt đường tĩnh mạch, lấy máu xét nghiệm và truyền normal saline
4. Cho vitamine B1 & glucose
5.Truyền TM lorazepam, diazepam
6.Truyền phenytoin
7.Nếu co giật còn kéo dài thí dùng phenobarbital TM

* * * * *

Trạng thái động kinh là một tình trạng cấp cứu mà ở đó cần phải tiến hành khẩn cấp những kỹ thuật nhằm đưa bệnh nhân ra khỏi tình trạng co giật và mất ý thức.

Thuật ngữ trạng thái động kinh (statuts epilepticus) chỉ tất cả các cơn động kinh tồn tại thời gian dài hoặc lặp lại có khoảng cách gần nhau giữa các cơn, đều tạo ra tình huống động kinh mạnh và kéo dài. Giữa các cơn có thể duy trì các trạng thái khác nhau như mất ý thức, hôn mê trong các cơn động kinh toàn thể kéo dài trên 30 phút đến 1 giờ , khiếm khuyết về thần kinh trong các cơn động kinh cục bộ.

Khái niệm “Cơn liên tiếp” ( các cơn lấn vào nhau, cơn này tiếp cơn khác trong đó cơn sau bắt đầu trước khi cơn trước kết thúc hoán toán. Trong lâm sàng thì cơn liên tiếp đồng nghĩa với trạng thái động kinh (P.Thomas, P. Genton)

Thuật ngữ “cơn hàng loạt” , là tình trạng các cơn tiếp diễn, cơn này tiếp cơn khác với trạng thái tĩnh bình thường giữa các cơn. Trong thực hành lâm sàng ,sự lặp đi, lặp lại các cơn có thể báo hiệu trong thời gian ngắn sẽ hình thành trạng thái động kinh( thường cơn động kinh cục bộ , giật cơ…

Phân loại triệu chứng học trạng thái động kinh

Các trang thái động kinh rất không đồng nhất ví chúng có rất nhiều biểu hiện khác nhau về triệu chứng học. Tính chất khởi phát, triệu chứng khở đầu mà lâm sàng không diễn tả hết. Để phù hợp phân loại quốc tế của các cơn động kinh cũng như tần xuất của các loại triệu chứng. Chúng tôi đưa ra phân loại trạng thái động kinh của Thomas, Rutecki (1997)

Điều tra về các nguyên nhân đối với trạng thái động kinh nhiều tác giả nhấn mạnh đến như một tai biến xảy ra trên một người động kinh đã biết, coi đây là biểu hiện khác thường cần phải tiến hành tìm nguyên nhân phát động (nhiễm trùng, hạ đường huyết, hạ natri huyết, tình trạng điều trị hay ngưng thuốc …). Một vài bệnh nhân có thể là cơn lần đầu hay không rõ nguyên nhân (Bảng 1)

Bảng 1 : Phân loại trạng thái động kinh

1.Cơn động kinh toàn thể
  • Cơn co- giật 
  • Cơn co cứng 
  • Co giật 
  • Động kinh tiềm ẩn 
2.Không co giật
  • Mất ý thức 
  • Động kinh cục bộ phức tạp 
3.Động kinh cục bộ đơn giản
  • Động kinh cục bộ vận động liên tiếp 
  • Động kinh đơn thuần cảm giác 
  • Aphasia 
Co giật toàn thể bao gồm co giật (clonic) – co cứng (tonic), động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ toàn thể hóa. Trạng thái co giật – co cứng được định nghĩa khi cơn co giật xảy ra ý thức bệnh nhân không tỉnh lại giữa các cơn. Sự co giật liên tiếp kéo dài hơn 30 phút tạo ra trạng thái động kinh, tuy nhiên khi cơ co giật khoảng 10 phút phải tiến hành điều trị. Những biểu hiện lâm sàng đôi khi là co cứng, co giật giật cơ hay dạng tiềm ẩn chỉ biểu hiện cử động hay nháy mắt.

Trạng thái động kinh tiềm ẩn lâm sàng có khi chỉ biểu hiện cử động, nháy mắt, cơn thực vật (tăng tiết nước bọt, cơn hô hấp, nhịp nhanh, mặt đỏ) những bệnh nhân này chẩn đoán lâm sàng kết hợp với EEG ghi trong cơn hay theo dõi monitor. Tình trạng này được đánh giá ở giai đoạn cuối với thời gian mất ý thức nếu không được điều trị thì tử vong khoảng trên 50% ca.

Trạng thái giật cơ : Trong trạng thái giật cơ có thể là triệu chứng của bệnh não nhiễm độc, hoặc chuyển hoá xảy ra trong khuôn khổ môt động kinh tiến triển.

Trạng thái động kinh không co giật, mà trên thực hành lâm sàng thường là các cơn động kinh vắng ý thức và cơn động kinh cục bộ phức tạp. Cơn vắng ý thức thường gặp trẻ em, liên quan đến ngủ lịm, chậm chạp sau cơn, chức năng vỏ não suy giảm, nháy mắt liên tục, giật các cơ hàm là triệu chứng thường thấy, hiếm gặp giật cơ hay co giật. Trong cơn EEG có các sóng bật thường với các gai nhọn, sóng chậm đa pha, điều trị với lorazepam cắt cơn rất hiệu quả. Cơn động kinh cục bộ phức tạp thường khởi đầu bằng tình trạng mất ý thức, hoặc những cơn động kinh cục bộ liên tiếp nhanh mà giữa các cơn mất ý thức, việc chẩn đoán các cơn dựa vào bệnh sử hoặc điện não ghi đợc những sóng bất thường cục bộ, trạng thái động kinh cục bộ phức tạp sau khi cắt cơn thường giảm trí nhớ có thể gặp thiếu sót thần kinh như yếu liệt, aphasia …

Trạng thái động kinh cục bộ đơn giản, thường gặp ba thể lâm sàng là động kinh vận động cục bộ đơn giản, động kinh cảm giác, aphasia. Sự xuất hiện liên tiếp và kéo dài liên tục có thể gây nên trạng thái động kinh, việc xác định chẩn đoán dựa vào tiền sử, khiếm khuyết thần kinh và EEG

Trạng thái động kinh cục bộ phức tạp có kènm theo suy giảm ý thức một cách có chọn lọc dưới dạng lú lẫn tâm thần, điện não đồ cần thiết phân biệt với trạng thaí vắng ý thức


Môt thể cục bộ khác mà Gastaut xếp vào trạng thái động kinh đó là các trạng thái động kinh một bên xảy ra ở trẻ em. Trạng thái động kinh này là triệu chứng biểu hiện của tình trạng xâm phạm não cấp hoặc sốt co giật. Cơn co giật nửa người kéo dài tồn tại với một hoạt động kịch phát tổn thương bán cầu não đối bên. Đôi khi liệt nửa người vĩnh viễn sau co giật

Sinh lý bệnh

Trạng thái động kinh tạo ra những thay đổi sinh lý có hệ thống. Hiện tượng toan hóa do co cơ và liên quan sự gia tăng lactate. Trước tiên là sự tăng thông khí dẫn đến toan chuyển hóa với pH máu có thể ( 7 , tăng Kali máu, và hoại tử cơ càng làm cho toan hóa tăng lên dẫn đến loạn nhịp tim.

Trong trạng thái động kinh, động kinh liên tục làm tăng hoạt động cơ thể kết hợp tăng hoạt động hệ thần kinh tự chủ gây nên sốt cao gia tăng tiết nước bọt, tăng tiết mồ hôi đưa đến ất nước và nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp, phù phổi do thần kinh có thể xảy ra và làm suy chức năng hô hấp.

Sốt cao có thể gây nguy hại cho chức năng hệ thần kinh, sốt làm tăng tiết mồ hôi, tổn thương tiết niệu kịch phát có thể gây suy thận. Nhiều yếu tố trên phối hợp lại càng làm cho trạng thái động kinh trầm trọng thêm và có nguy cơ tử vong

Thời gian cơn co giật trong trạng thái động kinh kéo dài 20 đến 30 phút là thời kỳ còn bù nên tổn thương não chưa xảy ra, nếu kéo dài 30 đến 60 phút khả năng hoạt động bù giảm, nếu thời gian trạng thái động kinh kéo dài trên 60 phút thì tổn thương thực sự và mất khả năng bù.

Trạng thái động kinh liên quan đến sự gia tăng lactat tạo ra từ não làm cho mạch máu não giãn và hậu quả làm phù não – tăng áp lực nội sọ, vì thế trạng thái động kinh càng kéo dài thì gây hoại tử não khó phục hồi. Ở giai đoạn trạng thái động kinh liên tục kéo dài chụp đện toán cắt lớp, cộng hưởng từ có thể có sự thay đổi như phù não cục bộ hay lan tỏa đặc biệt là vùng hypocampus.


Tổn thương thần kinh liên quan đến thời gian kéo dài co giật là một giả thiết từ một kết quả kích thích sự dẫn truyền thần kinh cũng như làm tăng Calci trong tế bào gây nên chết neuron. Từ cơ sở đó nhiều ý kiến đề nghị sử dụng thuốc bảo vệ thần kinh như hạ thân nhiệt, ức chế kênh calci, đối vận glutamate …

Nguyên nhân

Một số yếu tố phát động thường gặp, bệnh động kinh tự ý ngưng thuốc hay thay đổi thuốc, nhiều trường hợp sau một số ngày điều trị các cơn giảm người bệnh tự ý ngưng thuốc hoặc uống không đầy đủ nguy cơ làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu dễ gây phát động cơn. Những bệnh nhân động kinh uống rượu, bệnh toàn thân kèm theo như nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa, thiếu oxy trong các bệnh hô hấp, hạ đường huyết, sốt cao, kiềm máu rối loạn nước và điện giải đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ gây trạng thái động kinh

Trên nguyên tắc mọi cơn động kinh đều có thể tạo ra một trạng thái động kinh nếu một hoặc nhiều yếu tố khởi phát được tập hợp lại.

Trong trường hợp trạng thái động kinh là triệu chứng của sự xâm phạn não thành ổ thì tai biến mạch máu não lá nguyên nhân thường gặp ( 15 % case), một động kinh cục bộ tiến triển, lan toả thường thấy trong nhiễm trùng hệ thần kinh mà viêm não là một bằng chứng

Một u não, chấn thương sọ não củng là nguyên nhân gây trạng thái động kinh (5-15 % case) lâm sàng thường là động kinh cục bộ hoặc toàn thể hoá khó kiểm soát

Khi trạng thái động kinh là triệu chứng của rối loạn lan toả trong não thì yếu tố nguyên nhân rất nhiều : trước tiên là tình trạng rối loạn nước điện giả hạ đường huyết, tăng đường huyế thiếu oxy, suy thận, suy chức năng gan, ngộ độc, thuốc chống trầm cảm…

Khoảng 15-20 %case không tìn thấy nguyên nhân, vì thế việc tiên lượng trạng thái động kinh phụ thuộc vào một động kinh tồn tại trước đó

Bảng 2 : Nguyên nhân trạng thái động kinh

Nhóm 1 : Nguyên nhân tĩnh (static)
  • Tình huống co giật của bệnh động kinh 
  • Nghiện rượu và sử dụng các chất nghiện 
  • Ngưng thuốc điều trị động kinh 
  • Sự hỗn hợp nhiều yếu tố mà không rõ nhóm nào 
Nhóm 2 : Nguyên nhân cấp
  • Thiếu oxy não 
  • Tai biến mạch máu não 
  • U hệ thần kinh trung ương 
  • Chấn thương sọ não cấp 
  • Bệnh não do chuyển hóa 
  • Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (viêm não, viêm màng não) 
Điều trị

Trạng thái động kinh là một cấp cứu nội khoa, tiên lượng sinh mạng bệnh nhân phụ thuộc vào rối loạn thần kinh tự chủ (hô hấp, tim mạch) và các tác động sinh hóa của các cơn co giật (toan chuyển hóa). Trạng thái động kinh càng kéo dài tổn thương não càng trầm trọng và không hồi phục. Trong điều trị việc cắt cơn phải phối hợp cấp cứu hô hấp, cân bằng nước điện giải, điều chỉnh toan chuyển hóa, chống phù não. Tất cả trạng thái động kinh dù cơn nguyên phát toàn thể hay cục bộ đều coi là triệu chứng, sau công việc điều trị cắt cơn, điều tra nguyên nhân đối với thể lâm sàng khởi đầu trạng thái động kinh, những hiểu biết về một bệnh sử có động kinh và phát hiện thêm những nguyên nhân phát động (nhiễm trùng, hạ đường huyết, hạ natri máu).

Điện não đồ (EEG) là một kỹ thuật cận lâm sàng dễ thực hiện, vì thế trong cấp cứu trạng thái động kinh cần kết hợp giữa lâm sàng và EEG để chẩn đoán và theo dõi điều trị.

Nguyên tắc cơ bản hướng dẫn điều trị:

bullet


Bằng mọi cách cắt cơn trước 90 phút

bullet

Các thuốc điều trị cắt cơn dùng đường TM

bullet

Kết hợp benzodiazepin (tác dụng ngay lập tức) và phenytoin (tác dụng kéo dài) phải được coi là phương thức điều trị hàng đầu vì tính hiệu quả và an toàn tương đối

bullet

Điều trị các yếu tố khởi phát là một điều kiện chủ yếu quyết định tính hiệu quả trong điều trị trạng thái động kinh

bullet

Khi trạng thái động kinh đã được kiểm soát, ngay sau đó tiến hành điều trị củng cố bằng đường uống, tiếp đó tiến hành đánh giá lại bệnh động kinh

KHUNG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
1. 0-9 phút:
  • Kiểm tra tình trạng hô hấp, tuần hoàn; xử trí ngay 
  • Xem xét bệnh sử, khám thần kinh và tổng quát 
  • Đặt đường truyền tĩnh mạch, XN: đường, khí máu, BUN, ion đồ, SGOT, SGPT, nộng độ thuốc động kinh, chất độc 
  • Đặt đường thở và thở oxy nếu cần thiết 
  • Truyền TM dung dịch normal-salin 
  • Truyền glucose (25g) và Thiamin B1,100mg 
2. 10-30 phút: Nếu vẫn còn co giật bắt đầu truyền tĩnh mạch:

-Diazepam,
  • Người lớn; 10mg, hay 0,2mg/Kg, nếu cần thiết nhắc lại sau 5 phút có thể cho đến 30mg tấc độ IV 2mg/1 phút. Trẻ em ; 0,2mg/Kg hay 1mg/tuổi nếu cấn nhắc lại liều 0,2mg/Kg 
  • Rectal Diazepam : Là sự lựa chọn nếu không dùng đường IV: 2-5 tuổi liều - 0,5mg /Kg; 6-11 tuổi liều – 0,3mg/Kg; 12 tuổi trở lên – 0,2 mg/Kg. Nồng độ cao trong máu khoảng sau 10 phút 
- Lorazepam
  • Người lớn: 0,1mg/Kg, tổng liều đến 5mg, tốc độ 1mg/1 phút 
  • Trẻ em : 0,1mg/Kg, tổng liều đến 5mg, tốc độ 1-2mg/1 phút 
Điều trị Diazepam hay Clonazepam cho đến khi hết co giật

Nếu không còn co giật :
  • Phenytoin, liều khởi đầu: 20mg/Kg, tốc độ IV 50mg/1 pphút 
  • Theo dõi huyết áp thường xuyên và EEG 
  • Dùng diazepam và clonazepam kết hợp với phenytoin nếu có co giật trong lúc điều trị 
3. 31-60 phút: Nếu co giật dai dẳng, đặt ống nội khí quản (intubate)

- Phenobarbital,
  • Người lớn 20mg/Kg , IV 50mg/1 phút 
  • Trẻ em, 20mg/Kg , IV 25mg/1 phút 
Dùng đường tiêm bắp hay uống tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh và kinh nghiêm của thày thuốc

4. Trên 1 giờ :

Nếu co giật dai dẳng dùng liệu pháp “Barbiturate -Coma”, đặt nội khí
quản và ở khoa săn sóc đặc biệt
- Pentobarbital, liều 5mg/Kg sau đó 1-3mg/giờ có thể cho trong 4 giờ
- Phenobarbital liều cao: 30-120mg / Kg / 24giờ.

Các thuốc sử dụng điều trị trạng thái động kinh

Chỉ định dùng thuốc cắt cơn co giật trạng thái động kinh dựa vào hiệu lực của thuốc tác động nhanh vào não đang hoạt động co giật, nó không phụ thuộc vào tình trạng ý thức và hô hấp.

Thuốc được chọn đầu tiên là diazepam (valium, seduxen) có hiệu lực ngắn (15 phút) IV 0,25mg/kg, liều bolus 10mg trong 2 phút liều khởi đầu khi co giật trong một số trường hợp duy trì thuốc ngủ là không cần thiết, vì thế diazepam và lorazepam chỉ dùng khi co giật tái diễn trước khi dùng phenytoin và kết hợp với phenytoin. Phenytoin một mình nó cũng có tác dụng cắt cơn co giật. Diazepam dùng lâu, liều cao làm giảm ý thức và ngưng hô hấp.

Lorazepam có thuận lợi hơn trong điều trị trạng thái động kinh bởi có tác dụng kéo dài hơn trên hệ thần kinh trung ương so với diazepam. So sánh tác dụng của lorazepam và diazepam là 4mg lorazepam = 10mg diazepam, tương ứng chặn cơn là 76% và 89%, số bệnh nhân ngưng thở thì bằng nhau trên nghiên cứu mù đôi.

Một so sánh tác dụng của hydantoin và lorazepam thì lorazepam có tác dụng tốt hơn trong điều trị trạng thái động kinh (thuốc sử dụng nhiều Canada và Mỹ, chúng ta thường dùng valium hay biệt dược seduxen, ở Châu Aâu thường dùng clorazepam (rivotril) hiệu lực dài hơn valium nhưng thường suy giảm hiệu lực)

Phenytoin, thuốc có thuận lợi kiểm soát cơn co giật do thời gian bàn hủy kéo dài, điều bất lợi làm ảnh hưởng tim mạch vì thế chống chỉ định trong các bệnh tim và huyết áp thấp. Khi dùng một liều lớn và nhanh là rất nguy hiểm, nên chỉ tiêm chậm không bao giờ quá 1mg/kg/1 phút

Phenobarbital là thuốc tác dụng cắt cơn tốt hơn phenytoin, vì thế trạng thái động kinh có co giật cục bộ hay toàn thể tác dụng rất tốt, điều bất lợi là làm giảm ý thức kéo dài mà mục tiêu của điều trị là sau hết cơn bệnh nhân càng tỉnh càng tốt hạn chế tổn thương não khó hồi phục, một bất lợi nữa là ức chế hô ấp và ngưng thở mặc dù trớc khi dùng đã đặt nội khí quản và hô hấp nhân tạo giúp đỡ.

Pentotal là thuốc tác dụng nhanh, kết quả bao giờ cũng có mặc dầu liều cắt cơn thấp hơn liều gây rối loạn ý thức và suy hô hấp.

Những điều trị khác

1) Cấp cứu hô hấp, giải phóng đường hô hấp trên (đặt nột khí quản, cannule, đè lưỡi, tư thế nằm (nằm nghiêng) thở oxy 10 lít/phút)

2) Chức năng tim mạch, trước tiên điều chỉnh nước và điện giải, đo ECG, giảm áp lực phổi đánh giá tình trạng trụy mạch thứ phát, phù phổi cấp, loạn nhịp. Trong thực hành lâm sàng việc kiểm soát được co giật hạn chế rất nhiều các biện chứng khác

3) Hạ thân nhiệt bằng nhiều biện pháp khác nhau kể cả thuốc hạn chế tổn thương não do tăng thân nhiệt.

4) Điều chỉnh nước và điện giải, Normal-salin là dung dịch bù nước có hiệu quả

5) Chống phù não được đặt ra khi trạng thái động kinh kéo dài, tình trạng ý thức suy giảm, kèm những dấu thần kinh cục bộ, mannitol là thuốc được chọn

Điều trị nguyên nhân

Ở những bệnh nhân động kinh thì tiếp tục thuốc đã điều trị, nếu sau trạng thái động kinh triệu chứng thiếu sót thần kinh nhiều hơn làm CTscan, MRI kiểm tra.

Trong cơn sốt co giật trẻ em, sự xuất hiện trạng thái động kinh là yếu tố dự đoán có thể mắc bệnh động kinh do đó tiến hành điều trị ngay với các loại thuốc chống co giật trong thời gian dài.

Những bệnh nhân có co giật lần đầu của trạng thái động kinh không tìm được nguyên nhân hoặc chưa tìm được nguyên nhân ngay thì tiến hành điều trị thuốc chống động kinh ngay, thời gian tùy thuộc vào loại động kinh và mức độ nặng của bệnh.

Nguồn : Gs Chương

Đại cương đột quỵ do não

PGS. TS. Nguyễn Văn Chương

1- ĐẠI CƯƠNG
1.1- Thuật ngữ, khái niệm:

- Đột quỵ não và tai biến mạch máu não là hai tên gọi của một tình trạng tổn thương não cấp tính do mạch máu.

- Đột quỵ não (Stroke) được sử dụng ngày càng nhiều để thay thế thuật ngữ “Tai biến mạch máu não”.

- Thiếu máu não cục bộ tạm thời: tình trạng mất đột ngột chức năng của não bộ và được phục hồi hòan toàn trong vòng 24 giờ, không do chấn th­ương.

1.2- Định nghĩa đột quỵ não

Theo tổ chức y tế thế giới (OMS) đột quỵ não được định nghĩa như sau:

Đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng được đặc trư­ng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồn tại trên 24 giờ hoặc bệnh nhân tử vong trước 24 giờ. Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương.

1.3- Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

1.3.1. Đặc điểm phân bố máu của các động mạch não

Não được t­ưới máu bởi hai hệ động mạch là hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch sống - nền.

- Hệ động mạch cảnh trong: cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não và chia làm 4 ngành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước.

- Hệ động mạch sống - nền: phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới thuỳ thái dương và thuỳ chẩm.

- Hai hệ thống này được nối thông với nhau tại đa giác Willis

1.3.2. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

- L­ưu lượng tuần hoàn não:

Lư­u lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là 50ml/100g não/ phút (chất xám: 80ml/100g não/ phút; chất trắng: 20ml/100g não/ phút).

- Tiêu thụ O2 và glucose của não:

+ Mức tiêu thụ O2 trung bình 4ml oxy/100g não/phút, tiêu thụ glucose trung bình 6mg/100g não/phút.

+ Nhu cầu về O2 và glucose của não cần được đáp ứng liên tục và ổn định. Tế bào não không có dự trữ oxy, còn lượng đường dự trữ chỉ có thể đủ sử dụng trong vòng 2 phút.

1.4. Phân loại đột quỵ não trên lâm sàng

- Đột quỵ thiếu máu:

Chiếm 75-80% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:
  • Huyết khối động mạch não.
  • Tắc mạch não.
  • Hội chứng lỗ khuyết.
- Đột quỵ chảy máu:

   Chiếm 20-25% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:

+ Chảy máu não.

+ Chảy máu dưới nhện.

2- NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

2.1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ: có thể được chia thành hai nhóm;

2.1.1. Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được gồm:

- Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền...

- Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
  • Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ Nam/Nữ là 2,2/1).
  • Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng.
  • Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ. Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn.
  • Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trể em là thấp nhất.
2.1.2. Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được gồm:

Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động...

Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp, sau đó là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác.

2.2. Cơ chế bệnh sinh

- Đột quỵ chảy máu
  • Ở ng­ười lớn: tăng huyết áp, bệnh động mạch thoái hóa dạng tinh bột, dị dạng mạch, bệnh máu, nhồi máu não, do thuốc.
  • Ở trẻ em: vỡ phình mạch.
  • Ở sơ sinh: thiếu vitamin K, thiếu prothrombin.
- Đột quỵ thiếu máu não:
  • Do tắc mạch.
  • Do huyết khối động mạch não.
3. LÂM SÀNG

3.1. Đặc điểm lâm sàng chung của tai biến mạch máu não

3.1.1. Bệnh khởi phát đột ngột: bệnh nhân đang làm việc, sinh hoạt bình thường đột nhiên xuất hiện các triệu chứng thần kinh khu trú. Các triệu chứng có thể khơỉ phát và đạt mức độ nặng nề tối đa ngay từ đầu (thường gặp trong các trường hợp chảy máu não) hoặc khởi phát đột ngột và tiến triển nặng dần lên hoặc tiến triển nặng lên thành từng nấc (trong các trường hợp nhồi máu não).

3.1.2. Các triệu chứng thần kinh khu trú:

- Các triệu chứng vận động:
  • Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người.
  • Có thể liệt đối xứng.
  • Nuốt khó.
  • Rối loạn thăng bằng.
  • Liệt dây VII trung ương
- Rối loạn ngôn ngữ:
  • Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói.
  • Khó khăn khi đọc, viết.
  • Khó khăn trong tính toán.
  • Nói khó (kết hợp với triệu chứng khác).
- Các triệu chứng cảm giác:
  • Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửa người).
  • Thị giác (mất nhìn một bên mắt, bán manh, mất nhìn cả hai bên, nhìn đôi kết hợp với triệu chứng khác).
- Các triệu chứng tiền đình: cảm giác chóng mặt quay.

- Các triệu chứng tư ­ thế hoặc nhận thức:

Khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc, đánh răng, rối loạn định h­ướng không gian, gặp khó khăn trong việc mô phỏng lại hình vẽ cái đồng hồ, bông hoa... hoặc hay quên.

3.1.3. Các triệu chứng thần kinh khác: rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn thực vật v.v...

4. CẬN LÂM SÀNG

4.1. Xét nghiệm dịch não tuỷ

- Trong đột quỵ chảy máu: dịch não tuỷ có máu, đỏ đều 3 ống, không đông, vi thể thấy hồng cầu dày đặc vi trường, áp lực DNT có thể tăng.

- Trong huyết khối và tắc mạch, dịch não tuỷ trong suốt, không màu, vi thể không có hồng cầu.

- Tuy nhiên trong chảy máu não cũng có thể có khoảng 10-15% trường hợp trong dịch não tuỷ không có hồng cầu.

4.2. Chụp xquang cắt lớp vi tính (CT.Scan)

- Đối với đột quỵ chảy máu: biểu hiện tăng tỷ trọng trong tổ chức não và/hoặc trong khoang dịch não tuỷ (não thất, các bể não và khoang dưới nhện).

- Đối với nhồi máu não:

+ Ở giai đoạn cấp tính: có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo, mờ nhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm đậm độ vượt quá 2/3 vùng phân bố của động mạch não giữa…).

+ Ở sau giai đoạn cấp tính: có các ổ giảm tỷ trọng hình thang, hình tam giác, hình oval hoặc hình dấu phảy. Tỷ trọng thay đồi theo thời gian.

5. CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ NÃO

5.1. Chẩn đoán quyết định

- Chẩn đoán lâm sàng : căn cứ vào định nghĩa đột quỵ não của Tổ chức y tế thế giới

- Chẩn đoán cận lâm sàng: dựa vào xét nghiệm dịch não tuỷ, chụp cắt lớp vi tính sọ não…

5.2. Chẩn đoán phân biệt chảy máu não và nhồi máu não

5.2.1. Căn cứ vào lâm sàng

SSS=(2,5x đau đầu)+(2x nôn, buồn nôn)+(2 x ý thức)+(0,1x huyết áp tâm trương)

- (3 x dấu hiệu vữa xơ)-12

Có nhiều thang điểm lâm sàng để chẩn đoán phân biệt đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu, nhưng trên lâm sàng thường vận dụng các thang điểm sau:

- Thang điểm Siriraij (Siriraij Score Scale):
* Cách tính điểm:

+ Đau đầu : nếu có tính 01 điểm; không có: 0 điểm

+ Ý thức: bình thường tính 0 điểm; tiền hôn mê 01điểm; hôn mê 02 điểm

+ Các biểu hiện vữa xơ là:

Tiểu đường, khập khiễng cách hồi, thành động mạch cứng…

Có biểu hiện vữa xơ tính 01 điểm; không có: 0 điểm

* Đánh giá kết quả:

SSS < -1: chẩn đoán là nhồi máu não

SSS > +1: chẩn đoán là chảy máu não

-1< SSS < +1: SSS trong khoảng từ -1 đến + 1, chẩn đoán không chắc chắn.

- Thang điểm lâm sàng đột quỵ não (Clinical Stroke Score = CSS):

Bộ môn - Khoa Thần kinh Bệnh viện 103 HVQY đã nghiên cứu xây dựng và khảo sát lại bảng điểm lâm sàng đột quỵ não để chẩn đoán phân biệt hai thể đột quỵ não từ năm 2005 có độ chính xác cao và sử dụng thuận tiện.

Bảng điểm lâm sàng đột qụy não (CSS)-Thang điểm của Bộ môn- Khoa Thần kinh Học viện Quân y (2005)

STT
Triệuchứng
Điểm
1
Bị đột ngột và nặng tối đa ngay từ đầu (các triệu chứng không thay đổi hoặc giảm đi sau khởi phát)
1
2
Đau đầu (xuất hiện đột ngột, trong vòng 2 giờ sau khởi phát, cường độ dữ dội, tồn tại dai dẳng nhiều ngày)
1
3
Nôn và/hoặc buồn nôn
1
4
RL ý thức
1
5
  -5-
RL cơ vòng
1
6
HA tâm thu khi khởi phát từ 190mmHg trở lên
1
7
Có dấu hiệu màng não (cứng gáy dương tính)
1
8
Co giật hoặc kích thích vật vã
1
9
Quay mắt-quay đầu về một bên
1
10
Co cứng mất vỏ-duỗi cứng mất não
1
 Cộng
10 Điểm

* Ứng dụng trên lâm sàng như sau:

+ Tổng số điểm lâm sàng đột quỵ = 10.

+ Bệnh nhân có từ 0 đến 02 điểm CSS được chẩn đoán là đột quỵ thiếu máu não (nhồi máu não).

+ Bệnh nhân có từ 03 điểm trở lên được chẩn đoán là đột quỵ chảy máu.

5.2.2.2. Cận lâm sàng:

- Xét nghiệm dịch não tuỷ.

- Chụp CT.Scan

6- ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị đột quỵ não gồm các công việc chính sau:

6.1. Duy trì chức năng sống, điều chỉnh các hằng số sinh lý

- Duy trì chức năng sống: các bư­ớc A,B,C, D, cụ thể:

A- Giữ thông đ­ường thở (Airway): lau đờm rãi tháo răng giả…

B- Bảo đảm khả năng thở (Breathing) cho bệnh nhân cả về tần số và biên độ. Nếu cần phải thực hiện hô hấp hỗ trợ, thở oxy.

C- Bảo đảm tuần hoàn (Circulation): điều chỉnh huyết áp, nhip tim....

D- Thuốc (Drugs)

- Điều chỉnh các hằng số sinh lý: đ­ường huyết, n­ước - điên giải, chức năng gan, thân...

6.2. Chống phù não:

- Nằm đầu cao 300.

- Đảm bảo thông khí.

- Giảm thân nhiệt (Hypothermia).

- Truyền dich: Manitol

6.3. Điều trị theo thể bệnh

Việc điều trị cần khẩn trương và chuyên hoá cao biểu hiện bằng 2 khẩu hiệu của Hội Đột quỵ Thế giới:

- Thời gian là não (Time Is Brain).

- Sự tinh nhuệ là não (Competence Is Brain).

Để đảm bảo yêu cầu trên xu hướng chung của thế giới là đưa bệnh nhân tới chăm sóc và điều trị tại các trung tâm đột quỵ.

6.3.1. Đột quỵ chảy máu:

- Dùng thuốc cầm máu: Hemocaprol, Transamin: dùng sớm trong 2-3 ngày đầu của bệnh.
-6-


- Dùng thuốc chống thiếu máu não thứ phát bằng Nimodopin (Nimotop tiêm truyền hoặc qua đường uống).

- Bổ sung điện giải (K+).

6.3.2. Đột quỵ thiếu máu

Dùng các thuốc sau:

6.3.2.1. Các thuốc phục hồi, cải thiện dòng máu:

- Thuốc tiêu huyết khối (thrombolytic) như Urokinase, Streptokinase và recombinant Tissue Plasminogen Activator (r-TPA).

+ BN trong thời gian cửa sổ điều trị (treatment time window).

+ Chỉ định chặt chẽ.

- Thuốc chống đông: Heparin tiêm tĩnh mạch, liều trung bình 2500 UI, 6 giờ dùng một lần, cần theo dõi thời gian Howell hoặc thời gian Quick để điều chỉnh l­ượng, dùng 7-10 ngày.. Thời gian sau chuyển dùng Aspirin.

- Thuốc chống kết tập tiểu cầu: aspirin, dipyridamol, clopidogrel, ticlopidyl.

6.3.2.2. Các thuốc bảo vệ và tăng cường dinh d­ưỡng não (các thuốc bổ sung cơ chất và tăng cường tuần hoàn).

6.4. Điều trị triệu chứng:

- Dùng kháng sinh chống bội nhiễm. chống co giật, hạ sốt, an tĩnh, chống đau đầu....khi có chỉ định.

6.5. Chế độ dinh dư­ỡng, chăm sóc hộ lý, phục hồi chức năng

6.6. Các phư­ơng pháp điều trị khác:

- Điều trị phẫu thuật:

+ Lấy ổ máu tu, lấy cục máu đông trong lòng mạch, Bypass, stenting...

+ Mở sọ giải phóng chèn ép...

- Cấy tế bào phôi (stem cells)

6.7. Điều trị dự phòng cấp 2 sớm

7. DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO

- Phòng bệnh cấp I: Ngăn ngừa đột quỵ xuất hiện.

Tổ chức phòng và điều trị các yếu tố nguy cơ đại trà trong cộng đồng.

- Phòng bệnh cấp II: Ngăn ngừa đột quỵ tái phát.

Tổ chức điều trị theo từng bệnh nhân và từng thể bệnh cụ thể.

Các thể đột quỵ do não

Gs Nguyễn Văn Chương

I. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Thuật ngữ

- Thuật ngữ tương đương:

+ Đột qụy thiếu máu (ischemic stroke).

+ Nhồi máu não (cerebral infartion).

+ Nhũn não hay nhuyễn não (encephalomalacia hay ramollissement cerebral).

- Huyết khối (thrombosis).

- Tắc mạch (embolism).

- Nhồi máu lỗ khuyết (lacunar infarct hay lacune).

- Đột qụy tiến triển (stroke in evolution hoặc progressing stroke):

lâm sàng tiến triển nặng dần do bệnh lý mạch máu tiến triển (không do phù não).

- Đột qụy hoàn thành (completed stroke): qt. rối loạn huyết động đã ổn định.

- Đột qụy nhỏ (minor stroke): triệu chứng tồn tại 24h - 03 tuần, tên khác “thiếu hụt thần kinh có hồi phục do thiếu máu” (reversible ischemic neurologic deficit = RIND).

1.2. Phân loại lâm sàng đột quỵ não

- Đột quỵ thiếu máu: gồm huyết khối, tắc mạch và hội chứng lỗ khuyết.

- Đột quỵ chảy máu: gồm CM trong não, CM dưới nhện và CM não thất.

II. ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU

1. Nhắc lại phân bố máu của các động mạch não.

2. Nguyên nhân

- Viêm động mạch, các nguyên nhân khác (bệnh hồng cầu lưỡi liềm, đông máu rải rác, bệnh bạch cầu, tăng độ nhớt của máu. Khối phát triển nội sọ, ngộ độc oxyd carbon, nhiễm độc chì mạn tính, bệnh Moyamoya...): gây huyết khối và tắc mạch.

- Tăng huyết áp: gây HK, ổ khuyết, tắc mạch, CM.

- Xơ - vữa động mạch: gây huyết khối, tắc mạch.

- Bệnh tim, Vết thương lán, mổ phổi lớn, thợ lặn, sinh nở...: gây tắc mạch.

- Chảy máu, thiếu máu, phù não đm tận: gây ổ khuyết

3. Đặc điểm bệnh học (sinh lý, sinhh hoá, giải phẫu bệnh của NMN)

3.1. Các yếu tố quyết định mức độ nặng nề của tổn thương do NMN:

- Kích thước mạch máu bị tổn thương.

- Chức năng vùng tổ chức não bị tổn thương.

- Tốc độ hình thành cục tắc.

- Thời gian tồn tại cục tắc.

- Khả năng hình thành hệ thống tuần hoàn bên.

- Chất lượng của quá trình can thiệp điều trị.

3.2. Những Tổn thương tế bào và tổ chức do NMN:

- Thay đổi chức năng tế bào (các chất dẫn truyền, các chất điều biến thần kinh).

- Thay đổi về trao đổi chất (đường, đạm, chất béo, các gốc tự do...).

- Những thay đổi về điều tiết gen cũng như diễn đạt gen...

3.3. Tiến triển tổn thương não theo thời gian

3.3.1. Giai đọan cấp tính (24 giờ):

- Các tế bào thần kinh phóng điện (neuron) dễ tổn thương nhất trong tình trạng thiếu ôxy sau đó là các tế bào sao (astrocyt), tế bào đệm ít nhánh (oligodendroglia) và vi tế bào đệm (microglia).

- Những thay đổi sớm nhất sau thiếu máu khoảng 20 phút: tạo vi không bào (microvacuolation), đây là thay đổi duy nhất trong 6 giờ đầu tiên.

- Giờ thứ 4 - 6: thay đổi rõ nhất và cơ bản chỉ ở bình diện tế bào, chỉ thấy những thay đổi trong nhân tế bào và các bào quan, tổ chức não vẫn còn nguyên vẹn cả vi thể và đại thể. Khoang quanh mạch dãn rộng, chân các tế bào sao bị phù nề bắt đầu có phù mạch.

- Cuối giờ thứ 24: hầu hết những thay đổi hoại tử cấp đã đồng bộ. tổ chức não bị nhũn, mất ranh giới vỏ – tủy não, phù cục bộ tổ chức não, xóa mờ các rãnh cuộn não. Phù nề đạt mức độ cực đại từ giờ thứ 24 đến giờ thứ 48 và cơ bản do phù độc nội bào (intracellular cytotoxic edema), sau đó thêm phù mạch, phù ngoại bào làm cho phù não càng rầm rộ hơn.

- Trong vòng 5 -10 phút có thể xảy ra tổn thương vĩnh viễn chức năng não.

3.3..2. Giai đoạn bán cấp (24 - 48 giờ)

- Trong giai đoạn này: quá trình sửa chữa (reparative process), hấp thu hoại tử được khởi động, đặc trưng là sự xâm lấn của các vi đệm, Tế bào sao và tế bào nội mô xâm lấn vào hình thành các mao mạch mới.

- Quá trình này bắt đầu ngoại vi và hướng vào trung tâm ổ nhuyễn não.

- Nếu ổ nhuyễn não nhỏ, tổ chức hoại tử bị thực bào hoàn toàn, các mạch máu bị thoái hóa ổ nhuyễn não được thay thế bằng một nang nước với các sẹo thần kinh đệm xung quanh. Nếu ổ nhuyễn não lớn, tổ chức hoại tử chưa được hấp thu hoàn toàn mà vẫn còn tồn tại vùng trung tâm.

3.3..3. Giai đoạn mạn tính (tuần thứ 2 - 4 có khi hàng tháng)

- Đối với nhồi máu não đơn thuần (bland infartion): tổ chứ hoại tử được hấp thu hoàn toàn, tồn tại nang dịch, sẹo thần kinh đệm, teo cuộn não, dãn dãnh cuộn não, dãn não thất.

- Đối với chảy máu chuyển thể (nhồi máu não chảy máu): có hai khả năng xảy ra.

+ Xuất huyết đốm (peterchien) hoặc chảy máu đám (patchy).

+ Khi tổn thương các mạch máu lớn, gây ổ máu tụ lớn trong ổ nhồi máu.

- Do tổn thương thiếu máu gây thay đổi hình thái: hàng rào máu – não bị phá hủy, gây phù mạch. Sau hàng tuần hàng rào máu – não bền vững trở lại.

- Thay đổi sinh lý và mất khả năng tự điều hòa của các mạch máu lân cận. Mặc dù nhồi máu não nói chung luôn kèm theo giảm tuần hoàn não, giảm thể tích máu não, tuy nhiên cũng có những vùng lại tăng tưới máu, tăng thể tích máu não (luxury perfusion).

3.3.4. Tiển triển tổn thương não theo không gian

- Bình thường: 50 ml/100g tổ chức não /1 phút.

- Về phương diện tổ chức bệnh học:

+ Ở giữa: ổ nhồi máu não thực thụ (có lưu lượng tuần hoàn <10ml/100g tổ chức não/

phút):

+ Vùng tiếp giáp: vùng bán ảnh hay vùng tranh tối tranh sáng (penumbra), thiếu máu nhẹ tới vừa, lưu lượng tuần hoàn vào khoảng 10 -20 ml/ 100g não/ phút, các tế bào vùng này chưa chết nhưng không hoạt động, chúng sẽ được cứu thoát nếu kết quả điều trị tốt.

4. Đặc điểm lâm sàng từng thể

4.1. Huyết khối động mạch não

- Triệu chứng tiền báo: TIAs

+ Hệ cảnh: mù 1 mắt, liệt, RL cảm giác nửa người, RL ngôn ngữ…

+ Hệ sống - nền: chóng mặt, song thị, tê, nhìn mờ, nói khó….

- Hoàn cảnh khởi phát: xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm.

- Cách khởi phát và tiến triển: đột ngột,tăng dần,tăng theo từng nấc.

- Các triệu chứng chung: đau đầu, nôn, HA thay đổi, RL nhịp thở,RL tâm thần: co giật ít gặp, ý thức thường tỉnh hoặc chỉ RL nhẹ, có thẻ có rối loạn cơ vòng, thường gặp bí tiểu tiện hoặc đái không tự chủ.

- Các triệu chứng khu trú: tùy theo động mạch bị tổn thương.

Rối loạn ngôn ngữ khi tổn thương ở bán cầu trội. Liệt và liệt 1/2 người và liệt dây VII trung ương đối diện với bán cầu tổn thương. Nếu tổn thương một nửa thân não:lâm sàng có hội chứng giao bên. Tổn thương hệ sống – nền gây rối loạn thị lực, chóng mặt, nhìn đôi, RL phối hợp vận động...

4.2.Các thể lâm sàng nhồi máu lỗ khuyết:

- Đột qụy vận động đơn thuần (pure motor stroke):

- Hội chứng liệt thất điều nửa người và rối loạn ngôn ngữ - bàn tay vụng về (ataxic hemiparesis and dysarthria – clumsy hand syndrome):

+ Liệt thất điều nửa người: Tổn thương tháp và tiểu não. Liệt nửa người, thất điều cùng bên với bên liệt. Có thể có giảm cảm giác nhẹ.

+ Rối loạn ngôn ngữ và bàn tay vụng về:

- Đột qụy cảm giác đơn thuần.

- Đột qụy vận động – cảm giác.

- Các hội chứng lỗ khuyết khác:

+ Các hội chứng thân não

+ Các hội chứng bán cầu: Nhân đuôi: lú lẫn, rối loạn hành vi, vô tình cảm...Nhân đậu: rối loạn tâm thần (vô tình cảm, thất điều, các rối loạn chức năng thùy trán). Đồi thị: rối loạn tâm thần (rối loạn ngôn ngữ, rối loạn trí nhớ).

4.3. Tắc mạch não

- Khởi phát: rất đột ngột, th­ờng liên quan tới gắng sức, tâm lý.

- Các triệu chứng chung:

+ Rối loạn ý thức: tùy theo vị trí và đ­ờng kính cục tắc, có thể rối loạn ý thức nhẹ hoặc hôn mê.

+ Co giật (nếu cục tắc gây tắc các nhánh nhỏ ở vỏ não).

- Các triệu chứng thần kinh khu trú:

+ Phụ thuộc vào vị trí và các động mạch tổn thương. Cục tắc lớn gây tắc động mạch cảnh trong hay động mạch não giữa; cục nhỏ th­ờng gây tắc các nhánh xiên, nhánh nhỏ của động mạch não giữa, lâm sàng có các triệu chứng như­ rối loạn ngôn ngữ vận động, liệt chân hay tay đơn độc hoặc chỉ có rối loạn ngôn ngữ nhẹ. Tắc mạch ở tiểu não hay thân não, bệnh nhân có triệu chứng rối loạn chức năng tiểu não hay hội chứng giao bên. Cục tắc ở động mạch não sau gây nên nhồi máu não ở vùng vỏ não thị giác, bệnh nhân có triệu chứng bán manh.

III. ĐỘT QỤỴ CHẢY MÁU

1. Đại cương

1.1. Các thể

- Chảy máu trong nhu mô não

- Chảy máu dưới nhện

- Chảy máu não thất: chảy máu não thất tiên phát, thứ phát và trào ngược.

1.2. Nguyên nhân

Ở người lớn:

- Tăng huyết áp (vỡ phình mạch hạt kê Charcot – Burchard).

- Bệnh động mạch thoái hóa dạng tinh bột (amyloidose).

- Dị dạng mạch

- Bệnh máu

- Trong nhồi máu não (Vỡ mạch, Thoát mạch)

- Do thuốc

Ở trẻ em: vỡ phình mạch.

2. Đặc điểm lâm sàng đột quỵ chảy máu

2.1. Đặc điểm chung:

- Khởi phát đột ngột, nặng tối đa ngay từ đầu.

- Đau đầu, buồn nôn, nôn.

- Vai trò của huyết áp (HA tâm thu khi khởi phát > 200 mmHg, bệnh nhân oó tiền sử tăng huyết áp...)

- Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng.

- Dấu hiệu màng não…

- Liên quan tới căng thẳng tâm lý và thể xác, r­ượu bia.

- Rối loạn hô hấp, tim mạch, thực vật…

- Nặng có thể có co cứng mất vỏ hoặc duỗi cứng mất não.

2.2. Chảy máu não

Bên cạnh các triệu chứng chung kể trên còn có các triệu chứng tổn thương khu trú th­ường gặp (liệt, RL cảm.giác nửa người....), trường hợp nặng có các triệu chứng sau:

Dấu hiệu quay mắt - quay đầu, co giật, đồng tử mất cân đối (anisocorie)

2.3. Chảy máu dư­ới nhện

- Hội chứng màng não:

+ Các triệu chứng chức năng (đau đầu, nôn, táo bón, tăng cảm…).

+ Các triệu chứng thực thể (cứng gáy, Kernig, Brudzinski, vạch màng não, tư­ thế cò súng…).

- Phận chia mức độ nặng theo HUNT và HESS (5 độ):

+ Độ 1: không có triệu chứng hoặc chỉ đau đầu nhẹ.

+ Độ 2: Hc. Màng não điển hình, có thể có tổn th­ơng các dây thần kinh sọ não.

+ Độ 3: Hc. Màng não + tổn th­ng các dây thần kinh sọ não + tổn th­ơng thần kinh khu trú và có thể có RL ý thức, RL thức vật .

+ Độ 4: Hc. Màng não + tổn th­ơng các dây thần kinh sọ não + tổn th­ương thần kinh khu trú và RL ý thức, RL thức vật nặng nề.

+ Độ 5: bệnh nhân hấp hối.

IV. CẬN LÂM SÀNG ĐỘT QUỴ NÃO

1. Dịch não tuỷ

- Trong đột quỵ chảy máu: DNT thường có biểu hiện đại thể màu đỏ đều cả 3 ống nghiệm và không đông, vi thể thấy hồng cẩu và bạch cầu dày đặc vi trường.

- Trong đột quỵ thiếu máu não: DNT không có màu, trong suốt, vi thể thấy các thành phần không thay đổi.

- Tuy nhiên cần phân biệt được trường hợp có máu trong DNT tủy ở các bệnh nhân nhồi máu não do lỗi kỹ thuật khi tiến hành thủ thuật và lưu ý là cũng có trường hợp đột quỵ chảy máu nhưng trong DNT cũng không có máu.

2. Chụp cắt lớp vi tính

- Đột quỵ chảy máu não có các đặc điểm sau:

+ Có ổ tăng tỷ trọng thuần nhất

+ Vị trí: th­ường ở chất trắng não, não thất và/hoặc khoang DNT.

+ Hình dáng: tròn, oval hoặc không xác định.

+ Kích thước: không đồng nhất và tùy từng trường hợp.

- Đột quỵ thiếu máu:

+ Có ổ giảm tỷ trọng thuần nhất.

+ Vị trí: ở chất trắng hoặc ở vỏ não.

+ Hình dáng: tròn, oval, dấu phảy, tam giác, hình thang (đáy sát hộp sọ).

+ Kích th­ước: không đồng nhất và tùy từng tr­ường hợp.

3. Các phương pháp chẩn đoán khác: AG, MRI, MRA, PET, SPECT, Siêu âm Doppler…..
V. ĐIỀU TRỊ ĐỘT QỤY NÃO

1. Cácbiện pháp chung

1.1. Duy trì chức năng sống và điều chỉnh các hằng số sinh lý

1.2. Chống phù não

1.3. Điều trị triệu chứng

1.4. Chế độ dinh d­ỡng, chăm sóc hộ lý, phục hồi chức năng

1.5. Điều trị theo thể bệnh

2. Điều trị đột quỵ thiếu máu não

- Các thuốc nhằm phục hồi và cải thiện dòng máu

- Các thuốc tiêu cục huyết:

Yếu tố hoạt hóa plasminogen tổ chức liên kết (r-TPA), Streptokinase,Urokinase, yếu tố hoạt hóa urokinase plasminogen chuỗi đơn.

- Các chất chống đông: heparin, heparin trọng l­ợng phân tử thấp.

- Các chất kháng tiểu cầu: aspirin, dipyridamol, clopidogrel, ticlopydil, các chất chẹn thụ cảm thể glucoprotein IIb/ IIIa.

- Các ph­ương pháp dùng thuốc khác

+ Yếu tố ức chế trực tiếp thrombin: agatroban

+ Các chất ức chế thụ cảm thể kết dính của tế bào nội mô

+ Pha loãng máu, tăng thể tích: dextran trọng l­ợng phân tử thấp.

+ Các chất làm giảm fibrrinogen: Ancrod.

+ Các chất tác động lên vận mạch.

+ Các yếu tố tan cục huyết nội mạch.

+ Dinh d­ưỡng thần kinh (neurotrope effect), ức chế gốc tự do.

- Các ph­ương pháp điều trị can thiệp:

+ Lấy cục huyết khối

+ Phẫu thuât nối thông (Bypass)

+ Công nghệ mới (cấy tế bào gốc).

3. Điều trị đột quỵ chảy máu

- Điều trị bảo tồn cục máu đông: Transamin, Hemocaprol…

- Điều trị chống co thắt mạch não, thiếu máu não thứ phát: Nimotop.

VI. DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO

- Dự phòng cấp I.

- Dự phòng cấp II.

Khám 12 đôi dây thần kinh sọ

Trong phần triệu chứng học thần kinh, cách khám 12 đôi thần kinh sọ não rất cần thiết. Để nắm được vấn đề có hệ thống, chúng tôi trình bày tuần tự từ đôi I đến đôi XII.



I. KHÁM DÂY I (TK khứu : Olfactory)
1. GIẢI PHẪU
Các sợi thần kinh khướu giác từ niêm mạc mũi qua sàng xương bướm, tạo thành hành khướu giác, rồi dưới hình dáng một giải khướu giác đi vào mặt dưới của não.
Thần kinh khướu giác chi phối khướu giác ở niêm mạc mũi.
2. CÁCH KHÁM.
Dùng một hai chai chứa loại dầu có mùi thơm như dầu bạc hà chẳng hạn, để người bệnh ngửi. Tránh dùng các chất kích thích như Amoniac, dấm kích thích dây tam thoa (dây V). rối loạn về ngửi có thể thuộc 3 loại:
  • Mất hẳn cảm giác ngửi (anosmie)
  • Giảm cảm giác ngửi (hysosmie)
  • Lẫn mùi (parosmie).
3. NGUYÊN NHÂN.

Rối loạn về ngửi có thể do nguyên nhân địa phương viêm mạn tính niêm mạc mũi, thịt thừa, (polypes nasaux), v.v... vì thế, trước khi kết luận rối loạn ngửi do thần kinh khướu giác tổn thương, cần loại trừ các nguyên do về mũi họng.

Mất hẳn cảm giác ngửi có thể do chèn ép thần kinh khướu giác bởi khối u của phần dưới thuỳ trán hoặc u ở rãnh khướu giác hoặc các sợi thần kinh khướu giác bị đứt do bị chấn thương sọ não.

II. THẦN KINH THỊ GIÁC (Dây 2).
1. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG.

Các sợi thị giác đi từ võng mạc vào chèo thị giác, ở đây các sợi của nửa trong mỗi bên bắt chéo đường giữa, các sợi nửa ngoài đi thẳng. Dải thị tạo thành bởi các sợi của nửa ngoài cùng bên và của nửa trong bên kia. Mỗi dải thị đều đi vào củ não sinh tư trước và thể gối ngoài. Một số sợi tạo thành tia thị giác Gratio et đi từ thể gối ngoài qua phần dưới của bao trong đi lên vỏ não và tạo thành trung tâm thị giác ở vỏ não. Nửa trái của thị trường nằm trên nằm trên bán cầu đại não phải, nửa phải nằm trên bán cầu đại não trái.
2. CÁCH KHÁM.
2.1. Khám thị lực.

Bảo người bệnh nhìn các ngón tay ở khoảng cách khác nhau để đánh giá sơ bộ về thị lực.

Muốn chính xác, phải dùng một bảng in các mẫu chữ có kích thước khác nhau. Để bảng đó cách xa người bệnh 5 m và chỉ từng loại chữ cho người bệnh đọc, qua đó có thể đánh giá xem thị lực tốt hay xấu và còn khoảng bao nhiêu phần 10.
2.2. Khám thị trường:

Nghiên cứu sơ bộ thị trường có thể dùng phương pháp sau đây: thầy thuốc ngồi đối diện cách ngườibệnh 1m. nếu muốn kiểm tra mắt phải, bảo người bệnh nhắm mắt trái ( hoặc che mắt trái bằng một tấm bìa). Thầy thuốc cũng phải bịt mắt phải và bảo người bệnh nhìn thẵng vào mắt trái mình, mắt trái thầy thuốc cũng phải nhìn vào mắt phải người bệnh. Sau đó dùng ngón tay trái xê dịch dần về phía bên trái cho tới khi không nhìn thấy nữa. Trong lúc xê dịch như thế, cần luôn luôn hỏi người bệnh xem có nhìn thấy nữa không và so sánh với thị trường của thầy thuốc để đánh giá xem người bệnh có bị thu hẹp không? Làm như vậy về mọi phía có thể biết toàn bộ thị trường người bệnh.

Muốn thật chính xác phải dùng dụng cụ đo thị trường (champimètre).

Rối loạn thị trường có thể gặp mấy loại như sau:

-Thu hẹp mọi phía của thị trường (rétrésissement concentrique du champvisuet): thường gặp trong teo thần kinh thị giác.

- Ám điểm trung tâm: không nhìn thấy được giữa thị trường.

- Bán manh: có thể gặp trong các bán manh sau đây:

+ Bán manh khác bên: trong đó có loại bán manh thái dương bên này và phía mũi bên kia.

+ Bán manh cùng bên: nghĩa là không nhìn được ở phía thái dương bên này và phía mũi bên kia.

Hiện tượng bán manh là do tổn thương ở chéo thị giác; thường do u đè vào chéo thị giác gây nên.
2.3. Khám đáy mắt:

Phải có máy riêng để soi đáy mắt. Soi đáy mắt sẽ giúp ta xem: tình trạng động mạch và tĩnh mạch võng mạc, tình trạng gai mắt hoàng điểm…

cách khám dây thần kinh số I và II
III. DÂY VẬN NHỠN CHUNG (Dây III).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Dây III đi từ cuống não cùng bên là dây vận nhỡn chung, chi phối các cơ mắt trừ cơ thẳng ngoài và cơ chéo lớn, chi phối mống mắt, cơ nâng mi trên.
2. CÁCH KHÁM:

Khi liệt dây III, có thể thấy:

-Sụp mi, do liệt cơ nâng mi trên.

-Mắt chỉ có thể đưa ra ngoài và đưa nhẹ xuống thấp.

- Mắt lác ngoài (cơ thẳng ngoài do dây VI chi phối sẽ kéo mắt ra ngoài).

- Đồng tử giãn rộng và liệt.

- Mất khả năng điều tiết.
3. NGUYÊN NHÂN:

Dây III từ cuống não qua mặt ngoài của xoang hang, qua khe ổ mắt đi vào ổ mắt. Khi có viêm màng não (ổ viêm nhỏ), nhũn não hoặc chảy máu ở cuống não, chấn thương nền sọ, tắc tĩnh mạch của xoang hang có thể gây liệt dây vận nhỡn chung.
IV. DÂY CẢM ĐỘNG (Dây 4).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG:

Dây cảm động đi từ cuống não bên đối diện ngay sát dưới nhân dây 3. dây 4 chi phối cơ kéo lớn ( đưa mắt nhìn xuống dưới và ra ngoài).
2. CÁCH KHÁM.

Bảo người bệnh nhìn ngón tay thầy thuốc, đưa đầu ngón tay xuống thấp, mắt không đưa xuống thấp được.
3. NGUYÊN NHÂN.

Dây IV nằm gần sát dây III nên nguyên nhân gây tổn thương dây III cũng gây tổn thương dây IV.
V. DÂY VẬN NHỠN NGOÀI.
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Dây vận nhỡn ngoài nằm giữa giới hạn cầu và hành não cùng bên. Dây VI chi phối dây thẵng ngoài (đưa mắt ra ngoài).
2. CÁCH KHÁM:

Khi liệt dây VI người bệnh không thể đưa mắt ra ngoài. Người bệnh nhìn đôi khi nhìn ra ngoài.
3. NGUYÊN NHÂN:

Dây VI có thể bị liệt 1 hoặc 2 bên trong tăng áp lực sọ não. Những nguyên nhân gây liệt dây III, dây IV cũng có thể gây liệt dây VI.

cách khám dây thần kinh III, IV, VI
3.1. Một số phương pháp thăm khám đặc biệt dây III, IV, VI.
3.1.1.Giật nhãn cầu (nystagmus).

Là hiện tượng rung nhãn cầu vô ý thức và không tự chủ. Có khi nhìn ngoài đã thấy (giật nhãn cầu tự phát), có khi giật nhãn cầu chỉ xảy ra khi người bệnh nhìn cố định vào một vật hoặc đưa mắt sang ngang. Có thể gặp loại giật nhãn cầu ngang, dọc hoặc vòng tròn.

Giật nhãn cầu có thể gặp trong các bệnh sau đây:
  • Do tổn thương tiền đình ngoại biên, ví dụ sau viêm tai.
  • Do tổn thương trung ương.
  • Giật nhãn cầu đứng do tổn thương cuống não.
  • Giật nhãn cầu ngang do tổn thương cầu não.
  • Giật nhãn cầu vòng tròn (rotetoire) do tổn thương hành tuỷ.
3.1.2. Cách khám đồng tử:

-Khám kích thước của đồng tử: so sánh đồng tử hai bên:

+ Đồng tử giãn to: có thể do liệt co thắt đồng tử hoặc co thắt cơ giãn đồng tử, gặp trong nhiểm độc atropin và các dẫn xuất của nó, rược, cocain. Đồng tử giãn một bên thường do chèn ép dây III.

+ Đồng tử thu hẹp: có thể do cơ thắt hoặc do liệt cơ giãn đồng tử. Có thể gặp đồng tử thu hẹp trong tổn thương cầu não tuỷ hoặc thần kinh giao cảm cổ, trong bệnh tabet hoặc do ngộ độc pilocacbin, nha phiến và các dẫn xuất của phiến.
3.1.3. Khám hình dạng đồng tử:

Xem đồng tử có thể bị méo mó không? Đồng tử không đều, méo mó hoặc bên to bên nhỏ thường do viêm mống mắt, dính mống mắt và thuỷ tinh thể. Ở người bệnh thần kinh, phải nghĩ đến nguyên nhân liệt toàn thể.
3.1.4. Khám vận động của đồng tử:

-Xem phãn xạ với ánh sáng: nên nghiên cứu từng mắt riêng biệt. Người bệnh đứng trước cửa sổ, nhắm hai mắt trong vòng một phút, rồi mở một mắt của người bệnh xem đồng tử có thu lại do ánh sáng bên ngoài chiếu vào không?

- Xem phản xạ đìêu tiết: đồng tử sẽ co lại khi phải điều tiết để nhìn một vật từ xa lại. Bảo người bệnh nhìn ngón tay để từ xa lại gần, sẽ thấy đồng tử thu hẹp lại.
3.1.5. Rối loạn về đồng tử:

-Dấu hiệu Argyll Roberson: mất phản xạ với ánh sáng nhưng còn phản xạ điều tiết. Do tổn thương ở củ não sinh tư, thường gặp trong tabet, liệt toàn thể.

- Hội chứng Claude Bernard – Horner: liệt dây giao cảm cổ sẽ gây ra những rối loạn sau đây:

+ Đồng tử co: do liệt cơ giãn đồng tử chi phối bởi dây giao cảm cổ.

+ Hẹp khe mí mắt: mí mắt sụp do liệt phần trơn của cơ nâng mi.

+ Mắt lõm (Enoptalmie): do liệt cơ ổ mắt.

+ đôi khi có hiện tượng giãn mạch và không tiết mồ hôi sau khi tiêm pilocacpin vào da cổ.
VI. DÂY THẦN KINH SINH BA (Dây V).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Dây thần kinh sinh ba chi phối cảm giác ở mặt và vận động cơ nhai.

Rễ cảm giác đi từ hạch Galxe giữa mặt bên của cầu não. Các sợi cảm giác về sờ mó và vận động (kinesthésie) tận cùng trong một nhân lớn ở cầu não, gần thềm não thất 4, nằm ngoài nhân vận động. Các sợi cảm giác về nhiệt và đau tận cùng trong rễ lên kéo dài tới C2.

Nhánh vận động đi từ một hạch nằm ngoài nhân cảm giác và các tế bào xung quanh cống Sylvius, đi dưới hạch Gatxe và nối với nhánh hàm dưới. Hạch Gatxe cho ra ba nhánh:

-Nhánh mắt: đi vào ổ mắt bởi lỗ sàng (Trou sphénoidal) chi phối cảm giác màng tiếp hợp (trừ mi dưới) tuyến lệ, da của phần giữa mũi, niêm mạc phần trước hốc mũi, da mi trên, trán và da đầu cho tới đỉnh đầu. Nhánh này cũng bao gồm các sợi giao cảm nhỏ làm giãn đồng tử và các sợi cảm giác của màng cứng.

- Nhánh hàm trên: chi phối cảm giác ở má, vùng thái dương trước, mi dưới và niêm mạc mũi, phần trên hầu, khẩu cái và các tuyến hạnh nhân.

- Nhánh hàm dưới: chi phối phần dưới của mặt môi dưới, phần bên đầu, tai 2/3 trước lưỡi và răng dưới, tuyến nước bọt, các sợi vận động của nó chi phối ở thái dương, cơ nhai.
2. CÁCH KHÁM:

-Khám vận động dây V: bảo người bệnh cắn chặt răng, rồi sơ cơ nhai, và cơ thái dương, bình thường các cơ đó hai bên đều rắn như nhau. Nếu bên nào liệt, cơ bên ấy nhão hơn bên kia, khi há mồm, hàm đưa sang bên liệt, do cơ bên lành đẩy hàm sang bên liệt.

-Khám cảm giác dây V:

+ Về cảm giác da, thì khám như ở nơi khác.

+ Khám vị giác của 2/3 trước lưỡi: bảo người bệnh thè lưỡi, để ít đường rồi sau để muối vào phần trước lưỡi, nói người bệnh ghi cảm giác nhận được ra giấy.

+ Khám phản xạ giác mạc: quệt một đầu bông mềm vào giác mạc sẽ làm người bệnh nhắm mắt. Tránh quyệt bông vào đồng tử, vì sẽ làm người bệnh nheo mắt lại.
3. NGUYÊN NHÂN:

Nói chung tổn thương dây V có thể do các bệnh sau đây:

-Bệnh hành tuỷ.

-Tổn thương nền sọ, nhất là do chấn thương.

- Chèn ép một nhánh đi từ sọ ra.

- Zôna, hay bị nhất là nhánh mắt.

- Viêm da dây thần kinh.
VII. DÂY THẦN KINH MẮT. (Dây VII). Sẽ có một bài riêng.

cách khám dây V,VII
VIII. DÂY THẦN KINH THÍNH GIÁC. (Dây VIII).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Dây thần kinh thính giác gồm hai nhóm sợi một nhóm chi phối ốc tai (phần nghe), nhóm kia chi phối tiền đình và ống bán khuyên (phần thăng bằng).

-Các sợi nghe: đi từ hạch Corti, nằm trong lá xoắn của ốc tai (lamlspirale) rồi đi vào não, nằm ở ngoài thể thừng (corps restiforme).

- Các sợi tiền đình: đi từ hạch tiền đình của Scarpa tận cùng của một nhân nằm ngoài thềm não thất 4. Nhân này có nhiều nhánh mà quan trọng nhất là hạt tiền đình bên của Deiter.

- Các đường thính giác phụ: sau khi bắt chéo đường thính giác phụ tận cùng trong củ não sinh tư sau và trong thể gối giữa, một nhóm sợi khác đi qua bao trong đến vỏ não bên đối diện.
2. CÁCH KHÁM

Trước khi khám nên chắc chắn rằng ống tai ngoài còn tối.

Dùng một đồng hồ để phía sau người bệnh, đưa lại gần tai cho đến khi người bệnh nghe thấy tiếng tích tắc . rồi so sánh khoảng cách nghe được ấy với khoảng cách của người bình thường với cùng một đồng hồ. Phải khám ở cả hai bên tai.

Muốn thật chính xác, phải dùng một thính lực kế (audiomètre).
3. NGUYÊN NHÂN.

Liệt dây VIII có thể do chèn ép bởi khối u, viêm dây thần kinh do độc, viêm thận mạn, viêm màng não.

khám dây thần kinh số VIII
IX. DÂY THẦN KINH LƯỠI CẦU. (Dây IX).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG:

Dây IX đi từ một nhân của hành tuỷ, nằm sau trán hành.

Dây lưỡi hầu chi phối cảm giác 1/3 sau của lưỡi và niêm mạc hầu, chi phối vận động cơ thắt trên hầu, cơ trên hầu và tiết của tuyến nước bọt.
2. CÁCH KHÁM:

-Kiểm tra vị giác của 1/3 sau lưỡi.

- Gây phản xạ hầu: bằng cách kích thích phần sau hầu.
3. NGUYÊN NHÂN.

Thần kinh IX không bao giờ chĩ liệt một mình. Nguyên do gây liệt sẽ kể ở mục sau.
X. DÂY THẦN KINH PHẾ VỊ (Dây X).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Nằm sát dây IX ở hành tuỷ. Dây IX là dây vận động vòm hầu, hầu và phần trên thực quản, thanh quản. Nhánh cảm giác chi phối đường khí đạo, tim và hạch giao cảm, chi phối một số tạng ở bụng.
2. CÁCH KHÁM.

Khám hầu: hỏi xem người bệnh có bị sặc lỏng không?

-Quan sát vòm họng bằng cách đè lưỡi người bệnh và bảo kêu “a,a”. bình thường màn hầu nâng lên cân đối hai bên. Nếu liệt một bên, bên đó không nâng lên được: ta có dấu hiệu kéo màn. Nếu liệt hai bên vòm hầu không cử động.

- Nhánh thanh hầu trên chi phối thanh hầu và vận động cơ giáp nhãn. Liệt thần kinh quặt ngược một bên sẽ gây giọng nói đôi và đôi khi khó thở gắng sức. Liệt hai bên sẽ gây mất sức hoàn toàn, khó thở nặng gây tiếng rít.
3. NGUYÊN NHÂN:

Liệt quặt ngược có thể sau phẫu thuật ở cổ (nhất là sau mổ giáp trạng), phình động mạch chủ, u trung thất).
XI. DÂY THẦN KINH GAI (Dây XI).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Người ta phân làmhai loại: dây gai trong đi từ nhân mơ hồ (noyau ambigu) và dây gai ngoài, đi từ 6 đốt sống cổ đầu tiên của tuỷ sống.

Dây gai hoàn toàn là dây vận động, đi dưới xương chũm và chi phối cơ ức đòn chũm, cơ thang. Cơ thang còn nhận sự chi phối của đám rối cổ.
2. CÁCH KHÁM.

- Khám liệt cơ thang: bảo người bệnh nâng cao hai vai, quan sát xem phần trên cơ vai có gì thay đổi hai bên không. Bên liệt cơ mềm hơn.

- Khám liệt cơ ức đòn chũm: khi liệt người bệnh sẽ quay đầu khó khăn. Nếu ta lấy tay chống lại động tác quay đầu của người bệnh, nếu không liệt sẽ thấy nổi rõ thừng cơ ức đòn chũm, khi liệt sẽ không thấy rõ.
3. NGUYÊN NHÂN.

Do các bệnh ở hành tuỷ, phần trên của tuỷ. Liệt cả ba dây (IX, X,XI) gặp trong hội chứng của lỗ rách sau.
XII. DÂY THẦN KINH HẠ NHIỆT (Dây XII).
1. GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG.

Dây XII đi từ hai nhân (chính và phụ) nằm trong phần dưới của thềm não thất 4, gần đường giữa. Đi giữa tháp trước và trám hành qua ống lồi cầu (canal condylien), đi giữa động mạch cảnh và tĩnh mạch cảnh để đến lưỡi.

Là một dây hoàn toàn vận động, chi phối vận động lưỡi và cơ dưới móng (sous hyoidien).
2. CÁCH KHÁM.

Bảo người bệnh thè lưỡi càng xa càng tốt: khi liệt dây XII, lưỡi sẽ đẩy sang bên liệt. Cần phải phân biệt với trường hợp liệt dây VII gây mồm lệch, lúc người bệnh thè lưỡi cũng có cảm giác hơi lệch. Ngoài ra còn phải xem người bệnh có bị teo nửa lưỡi không.

Liệt dây XII một bên còn gây khó nói, khó nuốt.
3. NGUYÊN NHÂN:

Tổn thương dây XII gặp trong u não: viêm màng não ở nền sọ, chảy máu hay phình động mạch cột sống, gãy xương nền sọ.
Nguồn : Gs Chương

Hình ảnh XQ sọ não

1. Các xương sọ và khớp sọ




2.Giải phẫu X quang sọ thẳng, nghiêng







3. Giải phẫu X quang sọ trên tư thế chụp hố sau (Towns), Blondeau và Hirtz








4. Sơ đồ các động mạch và tĩnh mạch não trên hình chụp mạch não








5. Sơ đồ các thuỳ não và giải phẫu trên Cắt lớp vi tính và Cộng hưởng từ










Nguồn : seadropblog

Phân tích hình ảnh sọ não

1.Các dấu hiệu bất thường của hình ảnh X quang sọ não
1.1. Các vôi hoá bình thường trong hộp sọ

Bình thường ta có thể thấy được các vôi hoá của:
• Tuyến tùng,
• Đám rối mạch mạc,
• Màng cứng,
• Mạch máu,


1.2. Các vôi hoá bất thường trong hộp sọ
  • U sọ hầu,
  • U màng não,
  • U thần kinh đệm (glioma)
  • Dị dạng mạch máu,
  • Phình mạch,
  • U xương,
1.3. Hình ảnh giảm độ cản quang bình thường hộp sọ
  • Phần vảy (squamous) xương thái dương,
  • Các hạt Pacchioni
1.4. Hình ảnh giảm độ cản quang bất thường hộp sọ
  • Phẫu thuật,
  • Khí : Phần mềm, trong sọ do chấn thương sọ não hở,
  • Bản sọ: Bào mòn bản sọ ngoài, trong do u, viêm,
  • Bệnh lý lan toả: Di căn, multiple myeloma, Paget, cường tuyến cận giáp
1.5. Hình ảnh tăng độ cản quang bất thường
  • Toàn thể: Loạn sản xơ, To đầu chi (Acromegaly), Do thuốc, Thiếu máu,
  • Khu trú: Dị vật, Osteoma, Meningioma, búi tóc,
  • Nhiều vùng: Di căn đặc xương, Paget
1.6. Hội chứng tăng áp lực nội sọ
  • Giãn khớp sọ
  • Dấu ấn ngón tay
  • Mất vôi bản dốc





2.Hình ảnh chấn thương sọ não
2.1. Các loại đường gãy xương
  • Đường nứt sọ
  • Lún sọ
  • Vỡ nhiều mảnh.
2.2 Các đặc điểm của đường nứt sọ
  • Đường sáng
  • Xuyên qua hai bản xương
  • Thường thẳng, có thể đổi hướng đột ngột
  • Bờ rõ nét
  • Có thể chạy ngang qua các dấu ấn mạch máu hay các khớp sọ
Phân biệt với khớp sọ:
  • Các đường không đều, zic zac
  • Bờ đặc xương
  • Nằm ở các vị trí giải phẫu
  • Đối xứng
Phân biệt với các mạch máu:
  • Nhỏ dần khi chạy ra phía ngoại biên: động mạch
  • Chia nhánh và đối xứng
  • Các tĩnh mạch trong tuỷ xương sọ giãn.
3.Các dấu hiệu bất thường trên phim chụp mạch máu
3.1. Tắc mạch nội sọ
Do huyết khối hoặc cục tắc nghẽn, gây ra nhũn não, trên hình ảnh chụp mạch đó là dấu hiệu gián đoạn, cắt cụt mạch





3.2. Hẹp động mạch






Thêm chú thích



4. Các dấu hiệu bất thường của hình ảnh cắt lớp vi tính
4.1. Chấn thương sọ não
- Ngoài hình ảnh nứt sọ đã phân tích trong phần X quang thường quy, CLVT còn cho thấy các hình ảnh tụ máu,
- Tụ máu ngoài màng cứng: Hình thấu kính hai mặt lồi,
- Tụ máu dưới màng cứng: Liềm tụ máu hình thấu kính mặt lồi mặt lõm





4.2. Hình ảnh não úng thuỷ và teo não
- Não úng thuỷ gây giãn rất lớn các não thất, tương phản với các rãnh cuộn não xẹp,
- Teo não có các dấu hiệu song song giữa giãn não thất và giãn các rãnh hồi não



4.3. Hình ảnh các u não và các hiệu ứng nội sọ
- Dấu hiệu trực tiếp là khối choán chổ, có bờ rõ hay không rõ, kích thước từ vài mm đến > 10 cm. Có tỉ trọng tăng, giảm hoặc đồng tỉ trọng so với mô não bình thường. Sau tiêm thuốc cản quang khối u thường ngấm thuốc làm rõ hơn.
- Dấu hiệu gián tiếp là chèn đẩy các mốc giải phẫu, gây giãn các não thất, lấp đầy các bể hoặc não thất.
- Hiệu ứng phù nề mô não quanh u, thường giảm tỉ trọng so với mô não.



4.4. Áp xe não
       Ổ áp xe là ổ hoại tử mô não thường giảm tỉ trọng, ngấm thuốc cản quang ngoại vi ổ áp xe. Có phù nề giảm tỉ trọng quanh ổ áp xe.
4.5. Xuất huyết não
       Là ổ tăng tỉ trọng so với mô não. Thường kèm theo hiệu ứng phù nề quanh ổ xuất huyết.
4.6. Nhũn não
- Biểu hiện là vùng giảm tỉ trọng so với mô não lành, thường có bờ ít rõ, hình tam giác, nằm trên vùng phân bố của động mạch cấp máu.




Nguồn : seadropblog